Đặt vấn đề Hiện nay, trên thế giới có 1500 triệu con bò sữa nhưng được phân bố không đều giữa các châu lục. Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý tự nhiên của mỗi nước và tập trung chủ yếu ở châu Châu Âu, Bắc Mỹ, và Châu Úc. Các nước ở Châu Phi và Châu Á chủ yếu nuôi bò hướng thịt và cày kéo. Trong những năm gần đây, các nước Châu Á như: Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam đã chú trọng và có nhiều dự án phát triển chăn nuôi bò sữa.
Thái Lan, Malaixa, Philipin, Indonexia và Việt Nam là các nước có nghề sản xuất sữa chưa phải truyền thống, chỉ nuôi bò hạn chế ở 1 số vùng với giống bò có nguồn gốc từ Châu Âu và Bắc Mỹ, đòi hỏi đầu tư và trình độ kỹ thuật cao, lao động lành nghề Năm 1958, nước ta nhập giống bò lang đen trắng Bắc Kinh về nuôi thử tại Ba Vì (Hà Nội), Sa pa (Lào Cai), Đồng Giao (Ninh Bình). Năm 1968, nhập tiếp bò lang trắng đen Bắc Kinh về thích nghi nuôi ở Ba Vì, nhưng khả năng phát triển kém, tỷ lệ loại thải cao, năng suất sữa thấp nên đã được chuyển sang Mộc Châu. Sau đó nước ta tiếp tục nhập các giống bò sữa HF và nhận chuyển giao kĩ thuật từ CuBa. Ba Vì là một huyện có điều kiện khí hậu và đồng cỏ thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi bò và bò sữa đặc biệt là chăn nuôi bò sữa chiếm số lượng lớn và điều đó tạo điều kiện cho bệnh ký sinh trùng xảy ra nhiều hơn.
Những năm trước đây tại Trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì ít phát hiện thấy bệnh ký sinh trùng đường máu trên đàn bò đặc biệt là bò sữa nuôi đại trà mà chỉ thấy bệnh xảy ra ở những con bò được mua từ nơi khác về trong những tháng đầu. Đầu năm 2020 trên đàn bò sữa nuôi tại Trung tâm đã Luan van 2 xảy ra hiện tượng nhiều bò bị nhiễm ký sinh trùng đường máu và cho đến nay bệnh vẫn xuất hiện, tiến triển ngày càng phức tạp hơn gây ảnh hưởng lớn cho người chăn nuôi bò sữa. Trước tình hình đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữavà một số phương pháp điều trị trên bò sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì”. Mục đích chuyên đề và yêu cầu của chuyên đề Thực hiện đề tài nhằm mục đích sau: - Khảo sát nghiên cứu và đánh giá về tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên bò sữa ở tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội.
- Tìm hiểu các đặc điểm về dịch tễ, căn bệnh của bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. - Xác định được thành phần giống, loài của ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò sữa. - Xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. - Xác định được đặc điểm bệnh lý học của bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa.
- Đề xuất một số giải pháp phòng bệnh ký sinh trùng đường máu hiệu quả. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của các bệnh ký sinh trùng gây nên trên bò sữa và mối liên hệ của nó với vật chủ trung gian truyền bệnh, nhằm bổ sung cho cơ sở lý luận về tình hình các bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp cho người chăn nuôi bò sữa có thêm kiến thức trong phòng chống bệnh ký sinh trùng đường máu trong khi nuôi bò sữa.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cở sở nơi thực tập 2. Vài nét về đặc điểm tự nhiên của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập năm 1958, hiện đang quản lý 135 hộ gia đình Trung tâm có 43 cán bộ công nhân viên chức, biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Trung tâm quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa (Hài Hòa 1, Hài Hòa 2 tại xã Vân Hòa - huyện Ba Vì), 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất.
Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì. Ba Vì, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã được quy hoạch thành vùng chăn nuôi bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành “cái nôi” của ngành chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt từ khi Quyết định 167/2001/QĐ-TT được bạn hành, chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì đã phát triển rất nhanh ở quy mô hộ gia đình. Trong nhiều năm qua, Trung tâm khuyến nông Quốc gia có sự hợp tác thường xuyên và chặt chẽ với Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì trong việc tổ chức các lớp đào tạo tập huấn cho bà con nông dân, cán bộ khuyến nông các tỉnh; in ấn sách kỹ thuật, tờ rơi… Trong thời gian tới, Trung tâm tăng cường tổ chức các lớp đào tạo huấn luyện nhằm chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đến bà con nông dân, cán bộ khuyến nông đạt hiệu quả cao.
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Luan van 5 Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong 4 vùng Ba Vì tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó Trung tâm với sự hợp tác Quốc tế để phát triển bò sữa với các tổ chức: Thế giới trong Hài Hòa, JICA - Nhật Bản đội ngũ kỹ thuật trong Trung tâm được tham gia huấn luyện nâng cao tay nghề và cung cấp các thiết bị kỹ thuật để nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe cho đàn bò sữa thuộc Trung tâm. Chính nhờ được đầu tư đầy đủ, quản lý chặt chẽ và sự chỉ đạo tốt của Trung tâm mà sức khỏe của bò được cải thiện nhiều, sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng. Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lý Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì là đơn vị nghiên cứu sự nghiệp trực thuộc Viện Chăn nuôi đóng trên địa bàn xã Vân Hòa - huyện Ba Vì, cách trung tâm huyện Ba Vì 20km về phía Nam, xã Vân Hòa có diện tích đất khá rộng khoảng 17km².
Trong đó: Phía Bắc giáp xã Tản Lĩnh Phía Nam giáp xã Yên Bài Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây Phía Tây giáp vườn Quốc Gia Ba Vì 2. Khí hậu thủy văn Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6 0C. Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm).
Lượng mưa các Luan van 6 tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 200C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,80C; Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm. Địa hình đất đai Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng. Đất đai được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi.
Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội 2. Tình hình xã hội Nhìn chung tình hình dân cư quanh trung tâm còn nghèo, chưa phát triển so với các xã khác của huyện, nhưng mấy năm trở lại đây với sự phát triển của nghề chăn nuôi bò sữa nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo và coi nghề chăn nuôi bò sữa là nghề làm giàu và họ quyết định chuyển diện tích trồng lúa, chè, sắn sang chuyên canh trồng cỏ. Cũng nhờ nghề nuôi bò sữa mà bộ mặt vùng quê nghèo của Thủ đô đang từng ngày thay da đổi thịt. Tình hình phát triển kinh tế Quá trình hoạt động và nghiên cứu của Trung tâm dựa trên nguồn vốn của nhà nước cấp.
Mọi chính sách đối với người lao động đều được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật do vậy tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng cho người lao động 2. Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm Bò và đồng cỏ Ba Vì Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập năm 1958, Trung tâm có 41 cán bộ công nhân viên chức biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Trong đó: Luan van 7 + Trình độ tiến sĩ: 03 + Thạc sĩ: 15 + Kĩ sư: 31 + Công nhân: 07 Trung tâm quản lý 1 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa, 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 Trạm nghiên cứu đồng cỏ, 4 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất. Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì.
Tình hình sản xuất của cơ sở Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong vùng Ba Vì tăng lên đáng kể.