Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CầM 1. Giới thiệu bệnh Cúm gia cầm Cúm gia cầm (Avian influenza) hay còn gọi là Cúm gà, là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây chung giữa người và động vật, do nhóm virus cúm A, thuộc họ Orthomyxoviridae, chi influenzavirus A gây ra. Chữ “ortho” bắt nguồn từ Hy Lạp “orthos” có nghĩa là “chính, đúng”.
“Myxo” trong tên gọi virus này bắt nguồn từ hiện tượng phản ứng giữa virus với mucin (mucoprotein) trên bề mặt tế bào máu gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu. Virus Cúm gia cầm được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus. Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 subtype NA (từ N1 đến N9). Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh.
Các loại virus cúm lây lan một cách tự nhiên giữa các loài chim. Chim hoang dã mang sẵn virus trong cơ thể của chúng nhưng không mắc bệnh. Tuy nhiên virus cúm gia cầm lại dễ gây bệnh cho một số loài chim thuần bao gồm gà, vịt, gà tây và gây chết. Phân của động vật bị nhiễm bệnh là yếu tố truyền lây bệnh phổ biến giữa các cá thể với nhau.
Trên thế giới, một số subtype cúm A đã gây nên các đại dịch cúm như H2N2, H3N8, H3N2, H1N1. Trong một vài năm trở lại đây, đặc biệt trong năm 2014 trên thế giới đã ghi nhận sự xuất hiện và tái bùng phát của nhiều chủng cúm mới như H5N1, H7N9, H5N6, H9N2, H5N2, H5N3 và H5N8… Lần đầu tiên virus cúm A H5N1 độc lực cao được phân lập từ loài ngỗng nuôi tại tỉnh Quảng Đông Trung Quốc vào năm 1996. Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới Bệnh cúm ở gia cầm cũng như bệnh cúm ở người đã xuất hiện từ cách đây rất lâu, năm 412 trước Công nguyên Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm. Năm 1878, bệnh được Perroncito phát hiện ở Italy và mô tả rằng đây là một căn bệnh lan truyền nghiêm trọng và phát triển nhanh chóng gây ra tỷ lệ tử vong cao ở đàn gia cầm.
Vào năm 1880, Rivolto và Delprato đã có mô tả khác về bệnh dịch hạch về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích và sử dụng thuật ngữ “ hoại tử ở gia cầm” để mô tả về bệnh (Swayne và Suarez, 2000). Năm 1901, Centanni và Savunzzi xác định nguyên nhân của bệnh dịch tả này là một loại virus. Mãi đến năm 1955 virus này mới được xác định và phân loại là virus cúm type A. Năm 1981, Hội nghị chuyên đề Quốc tế lần thứ nhất về cúm Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 gia cầm đã được triệu tập tại Beltsville, Maryland, Hoa Kỳ (USA) và thuật ngữ “dịch hạch” đã bị xóa bỏ và thay vào đó là thuật ngữ “Cúm gia cầm thể độc lực cao”(Bakowski,1981; Lupiani và Reddy, 2009).
Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới. Bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra ở gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1950 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là H5N2. Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây. Mối liên quan giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm.
Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho thấy rằng virus cúm type A ở lợn và truyền lây cho gà tây, ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn. Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú (Ellis và Zambon, 2002). Dịch cúm gia cầm bùng nổ liên tục khắp các châu lục trên thế giới đã thúc đẩy các hiệp hội chăn nuôi gia cầm và các nhà khoa học tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề về bệnh. Từ đó đến nay, trong các Hội thảo về dịch tễ, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng.
Điều này cho thấy bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu. Càng đặc biệt nguy hiểm hơn khi virus cúm gia cầm “vượt hàng rào về loài”, thích nghi gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong rất cao (Cục Thú y, 2014). Tình hình Cúm gia cầm ở một số nước trên thế giới từ năm 2003 đến năm 2005 Địa điểm Thời gian Loại cúm Đối tượng Thiệt hại Số gia cầm chết Tháng 11/ 2003 Pakistan H7N3, H9N2 Gà tây và tiêu hủy là 1,7 đến tháng 3/ 2004 triệu con Xảy ra hai ổ dịch cúm gia cầm. Ca Ngày 19/2/2004 và H7N3(Chủng virus bệnh cuối cùng Canada Gà 9/3/2004 độc lực thấp) được ghi nhận vào ngày 20/4/2004 Hoa Kỳ, bang H7N2 (Chủng Ngày 11/2/2004 Gà Delaware virus độc lực thấp) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Địa điểm Thời gian Loại cúm Đối tượng Thiệt hại Gà công Kết thúc ngày H6 nghiệp 25/3/2004 Nam Phi Kết thúc vào đầu 6/8/2004 H5N2 Đà điểu tháng 12/2004 Vịt hoang Ai Cập 2004 H1N7 dã Đã tiêu hủy Từ ngày 25/2 đến Triều Tiên H7N3 Gà khoảng 219 ngày 26/3/2005 nghìn gà (Nguồn: Tổng hợp Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp Trần Hùng, 2014) Bảng 1.
Tổng hợp tình hình Cúm gia cầm xảy ra ở các nước từ năm 2007 đến năm 2017 Năm Loại cúm Quốc gia Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Trung 2007 H5N1 Quốc, Thái Lan và một số nước có ngành chăn nuôi phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, một số nước ở Châu Âu Israel, Ả-rập Saudi, Thụy Sỹ, Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên Bang Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, 2008 Trung Quốc, Pakistan, Nigeria, Bangladesh, Togo, Hồng Kông, Ai Cập, Đức, Indonesia, Lào, Thái lan, Việt Nam. Bungari, Campuchia, Trung Quốc, Hồng 2010 Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tây Ban Nha, Việt Nam. Bangladesh, Campuchia, Lào, Ấn Độ, Indoneisa, Nhật Bản, 2011 Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Hy Lạp, Hồng Kông và Việt Nam. H7N7 Úc Bangladesh, Nepal, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Đài 2012 H5N1 Loan, Hồng Kông, Việt Nam.
H7N3 Ấn Độ, Iran, Israel, Mexico. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Năm Loại cúm Quốc gia H5N2 Myanmar, Nam Phi. H7N2, Úc H7N7 H5N1 Bangladesh, Bhutan, Nepal, Campuchia, Trung Quốc 2013 H5N2 Hồng Kông. H7N3 Triều Tiên, Mêxicô H5N1 Việt Nam H7N9 Trung Quốc H5N6 Trung Quốc, Lào H5N8 H5N2, 2014 Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada H5N3 H7N2 Úc H7N3 Mexico 2015 H5N6 Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Lào Lào, Cam-pu-chia, My-an-ma, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Hàn 2016 H5N1 Quốc, Pháp, Mỹ.
Băng-la-đét, cam-phu-chia, Ca-mê-run, pháp, ấn Độ, Iran, Lào, H5N1 Li-bi, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Ne-pan, Niger,Tô – gô 2017 Áo, Hy lạp, Hồng Kông, Nhật bản, Hàn Quốc, Lào, My – an – H5N6 ma, Phi- Líp- pin Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 1. Bệnh Cúm gia cầm tại Việt Nam Theo Tổng hợp Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Trần Hùng, 2014: - Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: Lần đầu tiên phát hiện dịch cúm gia cầm ở Hà Tây (cũ), Long An, Tiền Giang. Dịch lây lan nhanh, chỉ trong vòng 2 tháng đã lây lan và gây ra dịch nặng ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hà Tây (cũ), Hải Dương. Nước ta đã phải tiêu hủy 30,4 triệu con gà, thủy cầm 13.5 triệu con và 14.76 triệu chim cút và các loài chim khác.
- Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004: dịch xuất hiện rải rác với quy mô nhỏ ở các hộ gia đình trên 17 tỉnh, cao điểm ở tháng 7. Tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 84. - Đợt dịch thứ ba từ 12/2004 đến 5/2005: dịch xuất hiện trên 36 tỉnh, thành phố và tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 470. - Đợt dịch thứ tư từ tháng 10/2005 đến 1/2006: dịch xảy ra cả ba miền với 24 tỉnh, thành phố làm chết và tiêu hủy 3.763 con gia cầm và các loài chim khác.
- Năm 2006: Ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng. Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine. - Năm 2007: Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007. Dịch không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và chia thành nhiều đợt.
Từ tháng 12/2006 và năm 2007, toàn quốc có 283 xã, phường thuộc 115 huyện quận của 33 tỉnh, thành phố (18 tỉnh miền Bắc, 10 tỉnh miền Nam, 5 tỉnh miền Trung) có tái phát các ổ dịch cúm. Dịch chủ yếu tập trung vào 2 đợt chính (đợt 1 từ 06/12/2006 - 07/3/2007 và đợt 2 từ 01/5/2007 - 23/8/2007). Tổng số gia cầm bệnh, chết và tiêu hủy là 314.268 con, trong đó gà chiếm 16,68%, vịt chiếm 80,82% và ngan chiếm 2,50%. Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt trước, sau đó lây nhiễm cho đàn gà.
Theo ghi nhận ban đầu, các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên vịt nhỏ, dưới 3 tháng tuổi, chưa được tiêm phòng vaccine cúm. Một số đàn mới tiêm nhưng chưa đủ thời gian sinh kháng thể bảo hộ. Các ổ dịch xảy ra trên đàn gia cầm chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ (quy mô dưới 500 con là phổ biến) tại các hộ gia đình. - Năm 2008: Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị xã của 27 tỉnh, thành phố.
Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106. - Năm 2009: Cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35 huyện, thị xã thuộc 18 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hà Nội, Vĩnh Long và Cao Bằng. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 105.601 con, trong đó gà 23.138 con (chiếm 74,94 %) và ngan 2. Dịch chỉ xuất hiện rải rác, nhỏ lẻ, phân bố ở nhiều tỉnh trong các khoảng thời gian khác nhau.