Tổng quan luận án
Trong giai đoạn 2001–2017, ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tại Việt Nam ghi nhận sự phát triển với tốc độ tăng trưởng tổng đàn bình quân 13,24%/năm và sản lượng sữa tăng 17,73%/năm. Đến năm 2017, tổng đàn bò sữa cả nước đạt 283 nghìn con, sản lượng sữa đạt 881,3 nghìn tấn và doanh thu toàn ngành đạt 100 nghìn tỷ đồng (tương đương 4,4 tỷ USD). Đi cùng với sự gia tăng quy mô và năng suất, bệnh lý đường sinh dục ở bò cái trở thành yếu tố gây tổn thất kinh tế và suy giảm năng suất sinh sản, trong đó bệnh viêm tử cung có tỷ lệ mắc cao sau khi sinh đẻ.
Phương pháp điều trị viêm tử cung truyền thống chủ yếu sử dụng các loại thuốc kháng sinh và hóa dược. Tuy nhiên, thực tế này dẫn đến ba vấn đề bất cập: thiệt hại kinh tế do phải loại bỏ sữa chứa kháng sinh, nguy cơ tồn dư kháng sinh trong thực phẩm đe dọa sức khỏe người tiêu dùng, và sự gia tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh viêm tử cung bò sữa trước đây còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở việc khai thác kinh nghiệm dân gian mà thiếu cơ sở dữ liệu khoa học về định danh vi khuẩn, kiểm chứng hoạt tính kháng khuẩn in vitro, tiêu chuẩn hóa dạng bào chế và đánh giá lâm sàng có đối chứng. Nhằm giải quyết các vấn đề trên, luận án tiến sĩ chuyên ngành Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc (mã số 9 64 01 06) của nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Sơn với đề tài "Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm tử cung bò sữa" đã được thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Thanh và TS. Nguyễn Hữu Cường.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
-
Mục tiêu chung:
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa trong chăn nuôi nông hộ để tìm các giải pháp ngăn chặn bệnh, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
- Đánh giá kết quả khi sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh viêm tử cung cho bò sữa có hiệu quả, nhằm hạn chế sử dụng kháng sinh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sữa và thực phẩm, góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
-
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Xác định thành phần, số lượng, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và chế phẩm có nguồn gốc thảo dược của nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung ở bò.
- Đánh giá kết quả của việc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược trong phòng, trị bệnh viêm tử cung bò sữa, đi sâu nghiên cứu kết quả sử dụng thảo dược ở hai dạng huyền phù và dạng viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn bò cái lai hướng sữa Holstein Friesian (HF) nuôi tại các hộ nông dân; 08 loài thảo dược khảo sát ban đầu và 05 loài thảo dược được tinh chọn để bào chế chế phẩm phòng trị bệnh dạng huyền phù và dạng viên.
- Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Phòng thí nghiệm bộ môn Ngoại sản (Khoa Thú y), Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Thực vật (Khoa Công nghệ sinh học) thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam; các nông hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội) và huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến bệnh lý viêm tử cung bò sữa và các phương pháp can thiệp điều trị:
- Khái niệm và phân loại bệnh: Dẫn xuất từ Sheldon et al. (2006), viêm tử cung là quá trình bệnh lý do vi khuẩn gây ra với các biểu hiện chảy dịch tử cung, sốt, giảm ăn, tăng nhịp tim và giảm sản lượng sữa. Phân loại bệnh học dựa trên nghiên cứu của Black et al. (1953) và Nguyễn Văn Thanh và cs. (2016) gồm 3 thể: viêm nội mạc tử cung (Endometritis), viêm cơ tử cung (Myometritis) và viêm tương mạc tử cung (Perimetritis). Samad et al. khảo sát trên 293 trâu mắc bệnh đường sinh dục cho thấy viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (35,9%). Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến (2007) xác định các căn nguyên vi khuẩn thường gặp gồm Streptococcus, Staphylococcus, Escherichia coli, Salmonella, Brucella và roi trùng.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Hossein-Zadeh and Ardalan (2011) chỉ ra biến động tỷ lệ mắc theo mùa vụ. Bruun et al. (2002) và Giuliodori et al. ghi nhận bò đẻ lứa đầu và từ lứa thứ 3 trở đi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn lứa 2, trong khi Gröhn et al. (1990) khảo sát 61.124 bò tại Phần Lan lại không thấy mối liên hệ rõ rệt giữa lứa đẻ và tỷ lệ bệnh. Fishwick (1997) cùng Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) chỉ ra can thiệp cơ học khi đẻ khó làm tổn thương niêm mạc sinh dục. Suriyasathaporn et al. (2000) và Norgaard et al. (1999) chứng minh bò cao sản chịu stress chuyển hóa, tăng tiết hormone cortisol làm suy giảm miễn dịch của bạch cầu. LeBlanc (2008) thống kê bò bị sát nhau làm tăng nguy cơ viêm tử cung từ 5,7 đến 27,4 lần (với 30–50% bò sót nhau bị viêm tử cung).
- Các phương pháp điều trị:
- Điều trị bằng hormone: Risco et al. (1994) thử nghiệm sử dụng PGF2α và GnRH trên 445 bò cái Holstein. Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến (2007) thử nghiệm 3 phác đồ tại Việt Nam và kết luận phác đồ kết hợp Lutalyze (chứa PGF2α) tiêm dưới da cùng dung dịch Lugol 0,1% và Norfloxacin (5 mg/kg thể trọng) bơm tử cung cho tỷ lệ khỏi bệnh 100%.
- Điều trị bằng hóa dược: Pulfer and Riese (1991), Bouters and Vandeplassche (1977) khảo sát Iodine, Saline và Chlorhexidine.
- Điều trị bằng kháng sinh: Gilbert and Schwark (1992), Bretzlaff et al. (1993), Thurmond et al., Reppert (2015) ghi nhận việc sử dụng Oxytetracycline, phối hợp Penicillin - Oxytetracycline và Ceftiofur, đồng thời nêu rõ các trở ngại về thời gian đào thải và tồn dư trong sữa.
- Nguy cơ kháng thuốc và tồn dư: Báo cáo của WHO (2014) về kháng kháng sinh toàn cầu; các nghiên cứu của Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1999), Cù Hữu Phú và cs. (1999), Nguyễn Ngọc Nhiên và cs. (1999), Đỗ Trung Cứ và cs., Đỗ Ngọc Thúy (2002), Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (2012); số liệu tồn dư Sulfadimidin của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP. Hồ Chí Minh (2014) và tồn dư Tetracycline của Duong Van Nhiem (2005).
- Nghiên cứu ứng dụng thảo dược: Trên thế giới, Ahmed et al. (2014) dùng Sầu đông (Azadirachta indica), Bông cận đông (Gossypium herbaceum), Bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và Keo (Acacia catechu); Sarkar et al. (2006) dùng dịch chiết tỏi kết hợp PGF2α; Marquez et al. (2007) dùng cây Sim (Montanoa tomentosa); Cui et al. (2014) phối hợp Ích mẫu, Đương qui, Hồng hoa, Cỏ gấu và Mộc dược; Esparza-Borges et al. (1996) dùng Tỏi, Khuynh diệp và Rau khúc; Du et al. (2010) khảo sát Bồ công anh, Kim ngân hoa, Ngải cứu, Đương qui. Tại Việt Nam, Vĩnh Định và cs. (2002), Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009), Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung (2010), Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014, 2016), Nguyễn Thị Thanh Hà và cs. (2017), Nguyễn Văn Thanh (2018) đã khảo sát các đặc tính kháng khuẩn của Đơn đỏ, Bồ công anh, Xuân hoa, Mò hoa trắng.
Khoảng trống luận án giải quyết:
Luận án định vị nghiên cứu vào việc lấp đầy khoảng trống giữa lý thuyết dược liệu học thú y và thực tiễn lâm sàng: tiến hành sàng lọc có hệ thống hoạt tính kháng khuẩn in vitro của 08 loài dược liệu trên các chủng vi khuẩn phân lập trực tiếp từ dịch viêm tử cung bò sữa tại địa bàn nghiên cứu; tuyển chọn 05 loài có hiệu lực cao nhất; phối chế và bào chế thành 02 dạng chế phẩm tiện dụng (huyền phù và viên đặt); thử nghiệm độc tính sinh lý lâm sàng và kiểm chứng hiệu lực phòng, trị bệnh trên đàn bò thực tế so sánh với phác đồ kháng sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên cơ sở bệnh lý học sinh sản gia súc: phản ứng viêm tại các lớp tổ chức tử cung (niêm mạc, cơ, tương mạc) dẫn tới biến đổi sinh lý thân nhiệt, tuần hoàn, hô hấp và làm biến đổi môi trường vi sinh vật đường sinh dục. Cơ sở dược lý học thực vật dựa trên tác dụng ức chế và tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh của các nhóm hoạt chất thứ cấp tự nhiên (alcaloid, flavonoid, tanin, saponin, coumarin, tinh dầu, acid hữu cơ) chiết xuất từ thảo dược, tạo tác động kháng khuẩn tại chỗ mà ít nguy cơ gây kháng thuốc và không để lại tồn dư độc hại trong sữa.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra dịch tễ và lâm sàng: Sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp chủ hộ chăn nuôi kết hợp khám lâm sàng trực tiếp trên bò sữa tại Ba Vì và Vĩnh Tường. Thực hiện kiểm tra trực tràng, kiểm tra âm đạo và sử dụng phản ứng Whiteside Test (WST) để chẩn đoán, phân loại thể bệnh. Đo đạc các chỉ tiêu sinh lý lâm sàng thường quy: thân nhiệt (°C), tần số hô hấp (lần/phút), tần số mạch đập (lần/phút), tần số nhu động dạ cỏ (lần/2 phút), phản ứng co tử cung và thời gian chảy sản dịch sau đẻ.
- Phương pháp vi sinh vật học:
- Thu thập bệnh phẩm dịch tử cung bằng phương pháp vô trùng.
- Nuôi cấy, phân lập và đếm tổng số vi khuẩn hiếu khí (CFU/ml).
- Định danh vi khuẩn hiếu khí dựa trên hình thái và đặc tính nuôi cấy trên các môi trường chọn lọc: thạch máu (Blood agar) cho Streptococcus và Staphylococcus, môi trường SS agar cho Salmonella, môi trường EM agar cho Escherichia coli.
- Đánh giá tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn bằng phương pháp kháng sinh đồ khuếch tán trên đĩa thạch đối với các loại kháng sinh thông dụng và tập đoàn vi khuẩn.
- Phương pháp chiết xuất, thử nghiệm in vitro và bào chế dược phẩm:
- Tách chiết 08 loại thảo dược bằng dung môi ethanol 70%, cô thu hồi dung môi và sấy đông khô để thu cao khô dịch chiết.
- Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn in vitro bằng phương pháp đo đường kính vòng vô khuẩn (khoanh giấy tẩm dịch chiết) ở các nồng độ 100 mg/ml và dãy nồng độ pha loãng đối với Staphylococcus spp. và Streptococcus spp.
- Thử nghiệm phối hợp cao khô của 05 loại thảo dược có hoạt tính tốt nhất.
- Bào chế 02 dạng chế phẩm: dạng huyền phù nồng độ 300 mg/ml phân tán trong ethanol 20%; dạng viên đặt tử cung sử dụng tá dược gelatin - glyceryl đổ khuôn thủ công loại 6 viên.
- Phương pháp thử nghiệm lâm sàng in vivo:
- Thử nghiệm độ an toàn của 02 dạng chế phẩm trên các chỉ tiêu sinh lý của bò.
- Thử nghiệm phòng bệnh: đưa chế phẩm vào tử cung bò sau đẻ, theo dõi thời gian tống sản dịch, khả năng kháng khuẩn dịch tử cung và tỷ lệ mắc viêm tử cung.
- Thử nghiệm điều trị: áp dụng trên bò mắc viêm nội mạc tử cung, so sánh hiệu quả hồi phục lâm sàng, sự biến đổi mật độ vi khuẩn và khả năng sinh sản (tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ thụ thai) so với nhóm đối chứng điều trị bằng kháng sinh.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học trong chăn nuôi và thú y, tính toán giá trị trung bình, sai số chuẩn ($\bar{X} \pm SE$), tỷ lệ phần trăm (%) và so sánh các sai khác thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về bệnh viêm tử cung ở bò sữa. Tác giả phân tích giải phẫu bệnh lý và biểu hiện lâm sàng của 3 thể bệnh:
- Viêm nội mạc tử cung: Gồm thể cata cấp tính có mủ (sốt nhẹ, đau nhẹ, sản dịch màu trắng xám lẫn mủ lợn cợn, tử cung co bóp yếu) và thể màng giả (niêm mạc hoại tử ăn sâu vào tầng cơ, sốt cao, giảm hoặc mất sữa, đau đớn dữ dội).
- Viêm cơ tử cung: Kế phát từ viêm nội mạc, vi khuẩn xâm nhập sâu gây phân giải lớp cơ, sốt cao, dịch viêm màu hồng hoặc nâu đỏ có mùi tanh thối, phản ứng co nhỏ của tử cung yếu ớt, có nguy cơ nhiễm trùng máu hoặc thủng tử cung.
- Viêm tương mạc tử cung: Viêm cấp tính toàn thân nặng, sốt rất cao, dịch viêm màu nâu rỉ sắt mùi thối khắm, phản ứng đau dữ dội kèm viêm phúc mạc, mất hẳn phản ứng co tử cung, dễ dẫn tới dính tương mạc và vô sinh.
Chương này cũng tổng thuật các yếu tố ảnh hưởng (giống, mùa vụ, lứa đẻ, sản lượng sữa, sát nhau, đẻ khó); phân tích ưu nhược điểm của các phác đồ điều trị bằng hormone, hóa dược, kháng sinh; tổng hợp cảnh báo của WHO và các nghiên cứu về nguy cơ vi khuẩn kháng kháng sinh cùng tình trạng tồn dư hóa chất trong sữa và thịt. Cuối chương, tác giả mô tả chi tiết nguồn gốc phân loại, đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng dược lý của 08 loài cây thảo dược:
- Mò hoa trắng (Clerodendrum viscosum Vent. / Clerodendrum philippinum, họ Verbenaceae): Chứa alcaloid, flavonoid, muối calci; tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, ức chế vi khuẩn.
- Bồ công anh (Taraxacum dens-leonis Desf. / Taraxacum officinale, họ Compositae): Chứa taraxasterol, choline, inulin, pectin; ức chế tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn.
- Đơn đỏ (Excoecaria cochinchinensis Lour., họ Euphorbiaceae): Chứa saponin, tanin, flavonoid 1,5%, coumarin, anthranoid, liquiritigenin; tác dụng thanh nhiệt giải độc, kháng khuẩn.
- Tô mộc (Caesalpinia sappan L., họ Caesalpiniaceae): Chứa tanin, acid gallic, sappanin, brasilin, brasilein, tinh dầu; kháng mạnh Staphylococcus, Salmonella, Bacillus subtilis.
- Sài đất (Wedelia chinensis (Osbeck) Merr. / Wedelia calendulacea, họ Asteraceae): Chứa wedelolacton, flavonoid, cumarin, tinh dầu; có tác dụng giảm đau, giảm sốt và kháng sinh trên lâm sàng.
- Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, họ Moraceae): Chứa flavonoid, cudraniaxanthon, kaempferol, quercetin, taxifolin.
- Huyền diệp (Polyalthia longifolia var. pendula Hort, họ Annonaceae): Chứa pendulamin A, B, pendulin, lacton kháng khuẩn mạnh trên vi khuẩn Gram âm và Gram dương.
- Xuân hoa (Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk, họ Acanthaceae): Chứa acid hữu cơ, flavonoid, sterol, carotenoid; có hoạt tính kháng khuẩn Gram dương, Gram âm và nấm.
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch bố trí thí nghiệm, vật liệu nghiên cứu và các bước triển khai kỹ thuật:
- Đối tượng: Đàn bò cái lai HF nuôi nông hộ tại Ba Vì (Hà Nội) và Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc); 08 loại thảo dược thu hái chuẩn hóa.
- Nội dung: Gồm 5 nội dung lớn: (1) Đánh giá thực trạng bệnh; (2) Xác định các yếu tố ảnh hưởng; (3) Xác định biến đổi lâm sàng và vi khuẩn học; (4) Khảo sát tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn; (5) Thử nghiệm in vitro và in vivo chế phẩm thảo dược dạng huyền phù và dạng viên.
- Phương pháp: Mô tả chi tiết kỹ thuật khám sản khoa qua trực tràng và âm đạo, phản ứng Whiteside test; quy trình chiết xuất cao khô bằng ethanol 70% và kỹ thuật đông khô; phương pháp thử kháng sinh đồ khoanh giấy khuếch tán; quy trình bào chế viên đặt tử cung trên nền tá dược gelatin - glyceryl; phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh lý tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, co bóp tử cung và các chỉ tiêu sinh sản sau điều trị.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các số liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu:
- Thực trạng bệnh: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn bò sữa nông hộ tại Ba Vì (Hà Nội) và Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) là 22,05%. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở giai đoạn ≤ 24 ngày sau đẻ (30,93%). Bò đẻ từ 5 lứa trở lên có tỷ lệ mắc cao nhất (32,00%). Bò có sản lượng sữa cao >30 kg/ngày mắc bệnh với tỷ lệ 30,32%. Các trường hợp đẻ khó và sát nhau làm tăng tỷ lệ mắc bệnh rõ rệt.
- Cơ cấu thể bệnh (trên 189 bò mắc bệnh): Thể viêm nội mạc tử cung chiếm đa số với 80,43% (152/189 con); thể viêm cơ tử cung chiếm 15,34% (29/189 con); thể viêm tương mạc tử cung chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,23% (8/189 con).
- Biến đổi lâm sàng và vi khuẩn học: Bò bị viêm tử cung có thân nhiệt, tần số mạch đập và tần số hô hấp tăng cao hơn so với bò bình thường. Tổng số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung bò bị viêm đạt $(7,95 \pm 2,71) \times 10^8$ CFU/ml, cao gấp 112,93 lần so với bò không bị viêm ($(7,04 \pm 2,95) \times 10^6$ CFU/ml). Tỷ lệ mẫu phát hiện vi khuẩn Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. ở bò không bị viêm lần lượt là 24,00% và 16,00%, trong khi ở bò bị viêm tử cung phát hiện đạt 100% số mẫu.
- Tính mẫn cảm kháng sinh: Vi khuẩn Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. phân lập từ dịch viêm tử cung có tính mẫn cảm cao nhất với kháng sinh Norfloxacin.
- Kết quả nghiên cứu chế phẩm thảo dược:
- Khảo sát in vitro 08 loại thảo dược ở nồng độ 100 mg/ml và pha loãng cho thấy có 05 loại dược liệu thể hiện khả năng ức chế mạnh cả hai chủng Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. gồm: Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng và Sài đất.
- Đánh giá phối hợp cao khô dịch chiết 05 loại thảo dược trên cho thấy tác dụng ức chế vi khuẩn được duy trì và nâng cao.
- Thử nghiệm an toàn: Chế phẩm thảo dược dạng huyền phù (300 mg/ml) và dạng viên đặt (tá dược gelatin - glyceryl) khi đưa vào tử cung không làm biến đổi tiêu cực thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số mạch đập, nhu động dạ cỏ và phản ứng co cơ tử cung của bò.
- Thử nghiệm phòng bệnh: Sử dụng chế phẩm thảo dược giúp giảm thời gian chảy sản dịch sau đẻ, giảm mật độ vi khuẩn trong dịch tử cung và giảm tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ.
- Thử nghiệm điều trị: Chế phẩm thảo dược điều trị viêm nội mạc tử cung cho hiệu quả tương đương nhóm sử dụng kháng sinh; khả năng sinh sản của bò sau điều trị (tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ thụ thai) đạt mức tương đương hoặc cao hơn nhóm điều trị bằng kháng sinh.
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
Nhóm / Tình trạng |
Kết quả ghi nhận |
| Tỷ lệ mắc viêm tử cung chung |
Nông hộ Ba Vì và Vĩnh Tường |
22,05% |
| Tỷ lệ mắc theo giai đoạn sau đẻ |
Giai đoạn ≤ 24 ngày sau đẻ |
30,93% |
| Tỷ lệ mắc theo lứa đẻ |
Bò đẻ từ 5 lứa trở lên |
32,00% |
| Tỷ lệ mắc theo sản lượng sữa |
Bò có sản lượng sữa > 30 kg/ngày |
30,32% |
| Tỷ lệ các thể bệnh ($n=189$) |
Viêm nội mạc tử cung |
80,43% (152 con) |
|
Viêm cơ tử cung |
15,34% (29 con) |
|
Viêm tương mạc tử cung |
4,23% (8 con) |
| Tổng số vi khuẩn hiếu khí |
Bò không bị viêm |
$(7,04 \pm 2,95) \times 10^6$ CFU/ml |
|
Bò bị viêm tử cung |
$(7,95 \pm 2,71) \times 10^8$ CFU/ml (tăng 112,93 lần) |
| Tỷ lệ xuất hiện Staphylococcus spp. |
Bò không viêm / Bò bị viêm |
24,00% / 100% |
| Tỷ lệ xuất hiện Streptococcus spp. |
Bò không viêm / Bò bị viêm |
16,00% / 100% |
| Kháng sinh có độ mẫn cảm cao nhất |
Staphylococcus và Streptococcus |
Norfloxacin |
| 05 thảo dược kháng khuẩn tốt nhất |
In vitro trên cả 2 chủng vi khuẩn |
Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng, Sài đất |
| Dạng chế phẩm thử nghiệm |
Ứng dụng phòng và trị bệnh |
Dạng huyền phù (thụt) và Dạng viên đặt tử cung |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Cung cấp số liệu khoa học có hệ thống về thực trạng mắc bệnh viêm tử cung, cơ cấu các thể bệnh và các yếu tố ảnh hưởng (lứa đẻ, sản lượng sữa, giai đoạn sau đẻ, đẻ khó, sát nhau) trên đàn bò sữa nuôi tại nông hộ thuộc huyện Ba Vì (Hà Nội) và huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc).
- Xác định sự biến đổi số lượng vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung khi bị viêm (tăng 112,93 lần so với bình thường) và xác định sự hiện diện tuyệt đối (100%) của hai chi vi khuẩn Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. trong các mẫu dịch viêm tử cung bò sữa.
- Chứng minh thực nghiệm hoạt tính ức chế vi khuẩn Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. in vitro của 05 loại thảo dược (Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng, Sài đất) và công thức phối hợp cao chiết của chúng.
- Cung cấp luận cứ khoa học về tính an toàn sinh lý lâm sàng của chế phẩm thảo dược dạng huyền phù và dạng viên đặt trên cơ thể bò sữa.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bào chế thành công 02 dạng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược (dạng viên đặt tử cung với tá dược gelatin - glyceryl và dạng huyền phù nồng độ 300 mg/ml) có tính ứng dụng thực địa, tiện lợi cho việc sử dụng tại các nông hộ chăn nuôi.
- Đưa ra giải pháp phòng và điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa có hiệu quả tương đương với kháng sinh, giúp nâng cao khả năng sinh sản của bò sau điều trị.
- Việc ứng dụng chế phẩm thảo dược góp phần giải quyết 3 vấn đề thực tiễn: giảm thiệt hại kinh tế do bệnh sản khoa, giảm nguy cơ phát sinh vi khuẩn kháng kháng sinh, và loại bỏ nguy cơ tồn dư kháng sinh trong sữa thương phẩm nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ việc xây dựng chính sách, quy định kỹ thuật về giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi bò sữa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Khuyến cáo áp dụng chế phẩm thảo dược dạng viên đặt và dạng huyền phù để phòng ngừa và điều trị thể viêm nội mạc tử cung trên đàn bò sữa sau đẻ tại các hộ chăn nuôi.
- Thực hiện tốt các biện pháp can thiệp đỡ đẻ đúng kỹ thuật, xử lý triệt để các ca đẻ khó và sát nhau để hạn chế tối đa nguy cơ viêm nhiễm tử cung.
- Đề nghị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ nhằm sản xuất chế phẩm thảo dược ở quy mô công nghiệp phục vụ rộng rãi ngành chăn nuôi bò sữa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Địa bàn khảo sát thực địa của luận án tập trung tại hai huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội) và huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc), chủ yếu trên phương thức chăn nuôi nông hộ với đối tượng bò lai hướng sữa Holstein Friesian.
- Nghiên cứu vi sinh vật tập trung vào nhóm vi khuẩn hiếu khí, đặc biệt là hai chủng Staphylococcus spp. và Streptococcus spp., chưa mở rộng phân tích toàn diện các nhóm vi khuẩn kỵ khí và vi nấm gây bệnh sinh sản.
- Thử nghiệm điều trị bằng chế phẩm thảo dược mới tập trung sâu vào thể viêm nội mạc tử cung (thể bệnh phổ biến nhất), chưa đánh giá trên diện rộng đối với các thể bệnh phức tạp hơn như viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thử nghiệm ứng dụng chế phẩm thảo dược trên các trang trại chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp tập trung và các vùng sinh thái chăn nuôi khác trên cả nước.
- Nghiên cứu sâu hơn về thành phần hoạt chất chính xác (hoạt chất tinh khiết) trong công thức phối hợp 5 loại thảo dược chịu trách nhiệm cho cơ chế diệt khuẩn.
- Tối ưu hóa công nghệ bào chế công nghiệp, đánh giá độ ổn định và hạn sử dụng của dạng viên đặt và dạng huyền phù trong điều kiện bảo quản thực tế.
- Mở rộng khảo sát hiệu quả của chế phẩm thảo dược đối với các thể viêm tử cung nặng (viêm cơ, viêm tương mạc) và các bệnh lý nhiễm trùng đường sinh sản khác ở gia súc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thú y, Dược lý thú y, Bệnh học sinh sản gia súc: Luận án cung cấp phương pháp luận thực nghiệm kết hợp giữa dịch tễ học lâm sàng, vi sinh vật học chẩn đoán và công nghệ chiết xuất, thử nghiệm hoạt tính sinh học của dược liệu; là tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Bệnh ngoại sản gia súc, Dược liệu thú y và Dịch tễ học thú y.
- Đối với bác sĩ thú y, cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo: Cung cấp bảng tiêu chí chẩn đoán phân biệt 3 thể viêm tử cung trên lâm sàng, phương pháp Whiteside test, cùng phác đồ ứng dụng chế phẩm thảo dược dạng viên và dạng huyền phù để thụt rửa/đặt thuốc điều trị tại chỗ cho bò sữa sau đẻ.
- Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách ngành nông nghiệp: Cung cấp căn cứ khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật chăn nuôi bò sữa an toàn sinh học, chương trình hành động quốc gia về kiểm soát kháng kháng sinh và chiến lược phát triển dược liệu bản địa phục vụ thú y.
- Đối với người chăn nuôi bò sữa: Giúp hiểu rõ các yếu tố nguy cơ (lứa đẻ, sản lượng sữa, sát nhau, đẻ khó) để chủ động phòng bệnh, đồng thời cung cấp giải pháp điều trị thảo dược an toàn, không phải hủy bỏ sản lượng sữa trong thời gian chữa bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại Ba Vì và Vĩnh Tường là bao nhiêu và tập trung nhiều nhất ở nhóm bò nào?
Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình trên đàn bò sữa nuôi nông hộ tại Ba Vì (Hà Nội) và Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) là 22,05%. Bệnh tập trung cao nhất ở giai đoạn $\le 24$ ngày sau đẻ (30,93%), ở bò đẻ từ 5 lứa trở lên (32,00%), ở nhóm bò có sản lượng sữa cao $> 30$ kg/ngày (30,32%), và đặc biệt tăng mạnh ở những bò bị đẻ khó hoặc mắc bệnh sát nhau.
2. Thể bệnh viêm tử cung nào chiếm tỷ lệ phổ biến nhất và các thể bệnh được phân biệt như thế nào?
Trong tổng số 189 bò mắc bệnh, thể viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất với 80,43%, tiếp đến là viêm cơ tử cung (15,34%) và thấp nhất là viêm tương mạc tử cung (4,23%). Chẩn đoán phân biệt dựa trên:
- Viêm nội mạc tử cung: Sốt nhẹ, dịch viêm màu trắng xám mùi tanh, đau nhẹ, phản ứng co nhỏ tử cung giảm nhẹ.
- Viêm cơ tử cung: Sốt cao, dịch viêm màu hồng/nâu đỏ mùi tanh thối, đau rõ rệt, phản ứng co tử cung yếu ớt.
- Viêm tương mạc tử cung: Sốt rất cao, dịch viêm màu nâu rỉ sắt mùi thối khắm, rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, mất hẳn phản ứng co tử cung.
3. Số lượng và thành phần vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung bò sữa biến đổi như thế nào khi bị viêm?
Khi bò bị viêm tử cung, tổng số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung tăng lên $(7,95 \pm 2,71) \times 10^8$ CFU/ml, gấp 112,93 lần so với bò bình thường ($(7,04 \pm 2,95) \times 10^6$ CFU/ml). Tỷ lệ phát hiện vi khuẩn Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. ở bò khỏe mạnh lần lượt là 24,00% và 16,00%, trong khi ở bò bị viêm tử cung, cả hai loại vi khuẩn này đều xuất hiện ở 100% số mẫu bệnh phẩm. Kháng sinh Norfloxacin có tính mẫn cảm cao nhất đối với hai chủng vi khuẩn này.
4. Luận án đã lựa chọn những loại thảo dược nào và bào chế thành các dạng chế phẩm gì?
Trong 08 loại thảo dược khảo sát ban đầu, 05 loại có khả năng ức chế vi khuẩn in vitro tốt nhất trên cả Staphylococcus spp. và Streptococcus spp. được lựa chọn gồm: Bồ công anh (Taraxacum dens-leonis Desf.), Đơn đỏ (Excoecaria cochinchinensis Lour.), Huyền diệp (Polyalthia longifolia var. pendula Hort), Mò hoa trắng (Clerodendrum philippinum) và Sài đất (Wedelia chinensis). Cao khô dịch chiết từ 05 loại này được bào chế thành 02 dạng chế phẩm: dạng huyền phù (nồng độ 300 mg/ml trong ethanol 20%) dùng thụt rửa và dạng viên đặt tử cung (sử dụng tá dược gelatin - glyceryl).
5. Hiệu quả phòng và điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung của chế phẩm thảo dược so với kháng sinh ra sao?
Chế phẩm thảo dược ở cả dạng viên đặt và dạng huyền phù đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, không gây ảnh hưởng bất lợi đến thân nhiệt, hô hấp, tim mạch, nhu động dạ cỏ và phản ứng co bóp tử cung của bò. Khi sử dụng phòng bệnh sau đẻ, chế phẩm giúp rút ngắn thời gian chảy sản dịch và giảm tỷ lệ mắc bệnh. Khi sử dụng điều trị viêm nội mạc tử cung, chế phẩm cho hiệu quả chữa khỏi tương đương phác đồ kháng sinh; khả năng sinh sản của bò sau điều trị (tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ thụ thai) đạt mức tương đương hoặc cao hơn nhóm điều trị bằng kháng sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn đã xác định toàn diện thực trạng dịch tễ học bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nông hộ tại Ba Vì và Vĩnh Tường với tỷ lệ mắc 22,05%, trong đó thể viêm nội mạc tử cung chiếm 80,43%, chịu ảnh hưởng lớn từ lứa đẻ cao, sản lượng sữa lớn, đẻ khó và sát nhau. Công trình đã làm rõ sự gia tăng 112,93 lần của tổng số vi khuẩn hiếu khí trong dịch viêm và sự xuất hiện 100% của Staphylococcus spp. cùng Streptococcus spp. Luận án đã sàng lọc và phối chế thành công 05 loại thảo dược (Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng, Sài đất) thành hai dạng chế phẩm an toàn là huyền phù và viên đặt tử cung. Kết quả thực nghiệm in vivo chứng minh chế phẩm thảo dược có hiệu quả phòng và điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung tương đương kháng sinh, đồng thời đảm bảo khả năng hồi phục sinh sản của bò sữa, mở ra giải pháp giảm thiểu sử dụng kháng sinh và ngăn ngừa tồn dư hóa chất trong ngành sản xuất sữa.