Đặt vấn đề Nông nghiệp là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong năm 2019 vừa qua gặp nhiều biến động, đứng trước những áp lực, thách thức và khó khăn về chất lượng sản phẩm thịt lợn và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đã và đang được chú trọng đầu tư và phát triển, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Những tiến bộ về giống, thức ăn, công tác thú y, làm cho đàn lợn không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu. Phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng mang lại lợi nhuận kinh tế trước tiên là đối với người chăn nuôi, sau đó là tạo động lực tiền đề đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia. Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu đó, trong chăn nuôi lợn vấn đề quan trọng cần đặc biệt quan tâm đó là phòng chống dịch bệnh và vệ sinh thú y. Dịch bệnh là yếu tố hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành của sản phẩm.
Cùng với đó là phải thực hiện tốt công tác chăm sóc và nuôi dưỡng quản lý đàn vật nuôi. Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, cũng như rất nhiều loại thuốc được sử dụng để phòng và trị bệnh, nhưng kết quả đem lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường không triệt để và hay bị tái phát. Nhiều công ty, trang trại đang gặp nhiều khó khăn trong công tác nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn. Nguồn nhân lực trong công ty không đủ để đáp ứng nhu cầu công việc đề ra.
Để đóng góp phần nào tìm hiểu tình m 2 hình chăn nuôi lợn thịt hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi, đồng thời áp dụng phương pháp chăn nuôi có hiệu quả cao, từ yêu cầu thực tiễn đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại Bùi Minh Họa, An Lão-Hải ”. Mục tiêu và yêu cầu 1. Mục tiêu - Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Bùi Minh Họa xã Mỹ Đức huyện An Lão thành phố Hải Phòng - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh, để đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại 1.
Yêu cầu - Thực hiện thành thạo quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt nuôi tại trại. - Thực hiện tốt công tác phòng bệnh tại trại Bùi Minh Họa xã Mỹ Đức huyện An Lão thành phố Hải Phòng - Nhận biết và chẩn đoán được một số bệnh, thành thạo các thao tác chuyên môn đã học, đánh giá hiệu quả của một số phác đồ dùng điều trị bệnh. - Hoàn thành những kế hoạch của cơ sở đặt ra. - Sinh viên phải chăm chỉ, cần cù, chịu khó, có thái độ, ý thức tốt với công việc của mình.
- Chủ động, sáng tạo trong công việc, dưới sự giám sát của cơ sở, sẵn sàng hoàn thành những nhiệm vụ mà cơ sở phân công. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lí Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Minh Họa thuộc địa bàn xã Mỹ Đức, huyện An Lão, tỉnh Hải Phòng.
Vị trí địa lý huyện được xác định như sau: Huyện An Lão nằm về phía tây nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 18km. Từ kinh tuyến 106027'30'' đến 106041'15'',vĩ độ từ 20042'30'' đến 20052'30'' - Phía Bắc giáp huyện An Hải. - Phía Đông giáp quận Kiến An. - Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng.
- Phía Đông Nam giáp huyện Kiến Thụy. - Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Thanh Hà và huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. An Lão nằm trong khu vực miền duyên hải đồng bằng bắc bộ, địa hình không bằng phẳng, thấp dần về phía đông nam, bị chia cắt bởi một số sông ngòi. Hệ thống sông ngòi được phân bố tương đối đều: phía bắc là sông Lạch Tray, phía nam là sông Văn Úc.
Chảy theo hướng từ tây bắc xuống đông nam là sông Đa Độ, đổ ra biển ở cửa sông Cổ Trai. Sông Đa Độ cung cấp nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các sông tạo thành hệ thống giao thông rất thuận tiện cho tầu bè qua lại. Địa hình đồi núi: Tuy nằm ở vùng châu thổ, nhưng An Lão lại có nhiều đồi núi, tạo nên cảnh trí thiên nhiên kỳ thú.
Đồi núi tập trung ở các xã Trường Thành, An Tiến, An Thắng, Trường Sơn và Thái Sơn. Núi Voi cách m 4 trung tâm huyện 2km về phía tây bắc, hình voi phục. Trong núi có nhiều hang động đẹp như hang Họng Voi, hang Già Vị, hang Cá Trắm, hang Cá Chép.Đây là khu du lịch, danh thắng, di tích lịch sử của huyện và thành phố, hằng năm thu hút hàng vạn lượt khách thập phương về thăm quan, chiêm ngưỡng. Mạng lưới giao thông đường bộ gồm: quốc lộ 10, tỉnh lộ 354,357, huyện lộ 301, 302, 303, 304, 402 phục vụ thuận lợi việc đi lại của nhân dân.
Địa hình đồng bằng nằm ở các xã, thị trấn trong huyện, rất thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng màu và trồng cây ăn quả. Ven các dòng sông, bãi bồi được hình thành, nhân dân đã và đang cải tạo, khoanh vùng, trồng cây ăn quả, cấy lúa và thả cát, phát triển kinh tế. Tổng số nhân khẩu của huyện, tính đến ngày 1-1-2002 là 121.152 người; nữ : 61436 người. Số người trong độ tuổi lao động là 70.
Chủ yêu là dân tộc Kinh. Nhân dân An Lão có truyền thống yêu quê hương, đất nước, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sữ lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân An Lão cần cù, khiếm tốn, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh cách mạng; son sắt thuỷ chung với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; tự lực, tự cường vượt qua khó khăn gian khổ, không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu. Ngày nay trong công cuộc đổi mới, nhân dân An Lão càng quyết tâm cao để xây dựng quê hương giàu đẹp văn minh.
Điều kiện khí hậu m 5 An Lão là một huyện thuộc tỉnh Hải Phòng, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó trại giống của công ty Amafarm chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng. Huyện An Lão nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,80C, độ ẩm 85%, lượng mưa 1740-1820 mm/năm.
Trong năm có 150-160 ngày nắng, cao nhất là 188 giờ nắng/tháng (tập trung từ tháng 5 đến tháng 7). Gió trong năm chủ yếu là gió mùa đông nam và gió mùa đông bắc. Cơ cấu tổ chức của trại Trại gồm có 3 người: + 01 quản ý + 02 sinh viên thực tập 2. Cơ sở vật chất của trại + Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại có tổng diện tích 80ha bao gồm: khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả.
Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân. Khu sản xuất gồm: - Khu lợn sinh sản gồm: 3 chuồng bầu, 2 chuồng đẻ, 2 chuồng cai sữa. - Khu chuồng hậu bị gồm: 2 chuồng hậu bị.
- Khu lợn thịt gồm: 4 dãy chuồng thịt. Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu. Trại được xây dựng khá lâu nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng cũng đã khá cũ nhưng mọi trang thiết bị và vật tư phục vụ chăn nuôi và sinh hoạt của cán bộ, công nhân của trại đều được quan tâm và chú trọng. * Về cơ sở vật chất: m 6 - Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,.
- Những vật dụng cá nhân như: kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị. - Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết: + Trong các chuồng có các ô chuồng được ngăn cách bằng tường và thép chắn. + Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động. + Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông.
+ Có hai máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện. Trại được liên kết với công ty cổ phần chăn nuôi TNHH De Heus với số lượng lợn thịt là trên 1000 con. - Hiện nay trại lợn của chủ trại Bùi Minh Hoạ là 1 trong số các trại âm tính với dịch tai xanh của công ty cổ phần chăn nuôi De Heus + Về cơ sở hạ tầng: - Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của kỹ sư, sinh viên và khu chuồng nuôi. - Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi.
- Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ. - Trại có một nhà kho cám chứa thức ăn cho lợn, được thiết kế khô ráo, sạch sẽ, không dột, có sạp kê bao thức ăn và xe đẩy bao thức ăn vào chuồng nuôi. - Kho chứa thuốc có đầy đủ các loại thuốc, các dụng cụ trang thiết bị phục vụ cho công tác điều trị bệnh cho lợn. Có tủ lạnh bảo quản vắc xin và tủ thuốc để bảo quản, dự trữ thuốc cho trại khi nhập từ công ty về.
m 7 - Hệ thống sát trùng: Nhà sát trùng cho người được chia làm 3 khu gồm 1 khu thay đồ, một khu sát trùng và một khu tắm tráng với các trang thiết bị như: Bình nóng lạnh, vòi hoa sen, chậu rửa, móc quần áo, tủ đựng quần áo, khăn, xà bông, dầu gội. Hệ thống sát trùng khu ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén để phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi lợn.