Chương 1 cũng cung cấp tổng quát đối tượng nghiên c ứu, ph ạm vi, m ục tiêu của nghiên cứu nhằm cung cấp một hướng đi khái quát cho ng ười nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu sâu hơn về sau. Đồng thời, việc đưa ra phương pháp nghiên cứu định hướng được các bước tiến hành khi thực hiện nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về hành chính công Hành chính công Hành chính công vừa là khoa học vừa là nghệ thuật quản lí.
Trong nhiều tài liệu của các nước, hành chính công (public administration), quản lí công (public management), quản trị quốc gia hay quản lí hành chính nhà nước (governance) có sự đồng nhất với nhau và trong nhi ều tr ường h ợp, được sử dụng thay thế cho nhau. Theo cách hiểu chung, hành chính công là thiết chế thực hiện quyền hành pháp, đưa chính sách, pháp luật vào cu ộc sống. Theo cách tiếp cận rộng, hành chính công là n ền hành chính ( public administration). Nền hành chính là khái niệm tổng quát, bao gồm các y ếu tố: hệ thống thể chế, pháp luật, thủ tục hành chính; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà n ước các cấp; đội ngũ cán bộ, công chức; nguồn lực tài chính, công s ản và các đi ều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo thực thi công vụ hiệu quả.
Đặc tr ưng và ranh giới của hành chính công hay nền hành chính phụ thuộc vào loại hình và quy mô của mỗi nhà nước. Cung ứng dịch vụ công là một trong những chức năng cơ bản mà nhà nước giao cho nền hành chính đảm trách. Trong quá trình phát tri ển c ủa nền hành chính, dịch vụ công được mở rộng trên nhiều lĩnh v ực khác nhau, với yêu cầu về chất lượng ngày càng cao. Nền hành chính phát triển phải phối hợp và điều hoà các nguyện vọng cá nhân với lợi ích c ủa c ộng đồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêu của một xã hội dân ch ủ.
Nhà nước không ôm đồm, tự mình giải quyết tất cả các vấn đ ề xã hội mà đ ẩy mạnh dân chủ hoá gắn với phân quyền, xã hội hoá nhằm tập trung th ực hiện tốt vai trò “lái thuyền”. Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được 8 chuyển cho các khu vực ngoài nhà nước thực hiện. Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là quản lí công hay mô hình quản lí công mới. Đó là sự điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Có th ể nói qu ản lí công là cách tiếp cận mới đối với hành chính công truyền thống, nhằm cải cách chất lượng quản lí nhà nước, hướng tới một nền hành chính năng động, linh hoạt hơn. Quản lí công quan tâm đến hiệu quả tác động, mức độ ảnh h ưởng của nền hành chính đối với xã hội. Quản lí công đặc bi ệt nh ấn m ạnh đ ến chức năng phục vụ, đến yếu tố chuyên nghiệp của nền hành chính và các nội dung về hợp tác công - tư. Trong đó, nhiều nguyên t ắc và cách th ức quản lí hiện đại của khu vực tư được các nhà nước vận dụng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính.
Nhiều cơ quan đã áp dụng mô hình chi phí – kết quả trong quản lí, cung ứng dịch vụ công nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội trong điều kiện hạn chế về nguồn lực. Thuật ngữ “khách hàng là thượng đế” được nhiều nước sử dụng để đổi mới mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền với công dân. Đơn vị hành chính công Đơn vị hành chính công là đơn vị hành chính được phân đ ịnh theo địa giới hành chính, theo đó đơn vị hành chính ở Việt Nam được chia thành ba cấp: cấp tỉnh, huyện, xã. Tương ứng mỗi cấp đơn vị hành chính có H ội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp v ới đ ặc đi ểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
Theo Luật Chính quyền địa phương năm 2015, quy định tại Điều 2 các đơn vị hành chính ở Việt Nam gồm: - Cấp tỉnh: các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 9 - Cấp huyện: các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thu ộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương. - Cấp xã: các xã, phường, thị trấn. Chức năng đơn vị hành chính công Mỗi đơn vị hành chính công có chức năng, nhiệm vụ được quy định bởi các cơ quan có thẩm quyền, theo quy định của pháp lu ật. Theo đó có hai chức năng cơ bản là: Một là, chức năng QLNN trên lĩnh vực, ngành của địa phương nhằm đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công c ụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, quy ho ạch, k ế ho ạch và kiểm tra, giám sát,… Hai là, chức năng cung ứng các dịch vụ hành chính công phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của công dân, ngay cả khi các nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của nhà nước.
Các mức độ của phân cấp hành chính Phân cấp hành chính là sự phân chia các đơn vị hành chính thành từng tầng, cấp theo chiều dọc. Theo đó cấp hành chính ở c ấp trên sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở cấp dưới. Ở Việt Nam hiện nay mức độ phân cấp hành chính của chính quy ền đ ịa phương thành 3 cấp, đó là: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ngoài ra, còn có “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” do Quốc hội thành lập.Theo đó, căn cứ yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều ki ện c ụ th ể c ủa t ừng đ ịa phương mà cơ quan nhà nước ở Trung ương phân cấp cho chính quy ền địa phương và chính quyền địa phương phân cấp cho c ơ quan c ấp d ưới thực hiện công việc một cách thường xuyên, liên tục theo thẩm quy ền và chức năng, nhiệm vụ được giao.
10 Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính nhà nước gi ữa chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thu ộc trung ương, ngày 30/8/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 08/2004/NQ-CP; đồng thời, ký ban hành chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ, theo đó mục tiêu, nội dung chương trình thể hiện rõ việc yêu cầu thực hiện phân cấp quản lý hành chính giữa Trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương.Việc triển khai phân cấp giữa chính quyền Trung ương và địa phương một cách thống nhất, đồng bộ, có hệ thống góp ph ần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính ở các cấp; và chính quy ền đ ịa phương đã chủ động trong thực hiện quyền, nhiệm vụ được giao của từng ngành, lĩnh vực. Việc phân cấp tập trung lĩnh vực qu ản lý đ ất đai, tài nguyên và môi trường; quản lý ngân sách và tài sản nhà nước; quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; quản lý doanh nghiệp; quản lý hoạt động đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công; quản lý tổ chức bộ máy, công chức, viên chức. Các yếu tố cấu thành nền hành chính Việt Nam Có nhiều cách tiếp cận về nền hành chính nhà nước, nhưng phổ biến hiện nay cho rằng nền hành chính nhà nước là hệ thống các yếu tố hợp thành về tổ chức (bộ máy, con người, nguồn lực công) và cơ chế hoạt động để thực thi quyền hành pháp. Theo đó, nền hành chính nhà nước bao gồm các yếu tố cấu thành: Một là, hệ thống thể chế hành chính bao gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản qui phạm về tổ chức, hoạt động của hành chính nhà nước và tài phán hành chính.
Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước các cấp, các ngành phù hợp với yêu cầu thực hiện quyền hành pháp. 11 Ba là, đội ngũ CBCC hành chính được đảm bảo về số lượng và chất lượng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của nền hành chính. Bốn là, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm yêu cầu thực thi công vụ của các cơ quan và công chức hành chính. Đặc tính của nền hành chính nhà nước Việt Nam Để xây dựng một nền hành chính hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cần phải hiểu rõ những đặc tính chủ yếu của nền hành chính nhà nước.
Những đặc tính này vừa thể hiện đầy đủ bản chất của Nhà n ước Cộng hòa XHCN Việt Nam, vừa kết hợp được những đặc điểm chung c ủa một nền hành chính phát triển theo hướng hiện đại. Với ý nghĩa đó, n ền hành chính Nhà nước Việt Nam có những đặc tính chủ yếu sau: - Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị Nguồn gốc và bản chất của một nhà nước bắt nguồn từ bản chất chính trị của chế độ xã hội dưới sự lãnh đạo của một chính đảng. Dưới chế độ tư bản, nhà nước sẽ mang bản chất tư sản, còn dưới chế độ xã hội do Đảng cộng sản lãnh đạo thì nhà nước mang bản chất của giai c ấp vô s ản. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, Đảng nào cầm quyền sẽ đứng ra l ập Chính phủ và đưa người của đảng mình vào các vị trí trong Chính phủ.
Các thành viên của Chính phủ là các nhà chính trị. Nền hành chính lại được t ổ chức và vận hành dưới sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, vì vậy dù muốn hay không, nền hành chính phải lệ thuộc vào hệ thống chính trị, phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, tuy lệ thuộc vào chính trị song nền hành chính cũng có tính độc lập tương đối v ề ho ạt đ ộng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ thuật hành chính. Ở nước ta, nền hành chính nhà n ước mang đầy đủ bản chất của một Nhà nước dân chủ XHCN “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" dựa trên nền tảng c ủa liên minh giai c ấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam 12 lãnh đạo.