Đặt vấn đề Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, Ngành Hải quan đã có nhiều nỗ lực để vừa tạo thuận lợi cho thƣơng mại, vừa tăng cƣờng kiểm soát của mình. Một trong những biện pháp mà ngành Hải quan đã thực hiện để đạt đƣợc những mục tiêu trên đó là tiến hành cải cách và hiện đại hoá hải quan, hội nhập với xu hƣớng phát triển chung với ngành hải quan thế giới. Trƣớc xu hƣớng phát triển tất yếu của thủ tục hải quan điện tử, trong điều kiện chính phủ điện tử ở Việt Nam đang đƣợc xây dựng và thực hiện; thực hiện chủ trƣơng của Chính phủ và Bộ Tài chính; từ năm 2005 tới nay, Tổng cục Hải quan đã từng bƣớc thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Quá trình triển khai và thực hiện thủ tục hải quan điện tử từ năm 2005 theo Quyết định 149/2005/QĐ-TTg, ngày 20 tháng 6 năm 2005 của Thủ tƣớng Chính phủ về thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đến nay đƣợc chia ra làm 4 giai đoạn sau: - Giai đoạn 1 (2005 - 2006): Tổ chức thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.
- Giai đoạn 2 (từ 01/01/2006 đến 30/08/2006): Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm giai đoạn 1; lựa chọn thêm một số cục hải quan tỉnh, thành phố có đủ điều kiện để thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. - Giai đoạn 3 (từ 09/2006 đến hết năm 2007): Tổng kết, đánh giá, báo cáo Thủ tƣớng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm. 11 - Giai đoạn 4 (từ 2008 – 8/2009): Tiếp tục mở rộng và hoàn thiện một số loại hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Từ 8/2009, Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện mở rộng thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 08 năm 2009 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 149/2005/QĐ-TTg.2 Vài nét về thủ tục hải quan điện tử.
Thực hiện thủ tục Hải quan điện tử là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lƣợc cải cách và hiện đại hoá của Ngành Hải quan. Sau gần 4 năm triển khai thí điểm theo tinh thần Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của của Thủ tƣớng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử, đến nay thủ tục hải quan điện tử đã đƣợc dƣ luận xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, bƣớc đầu tạo động lực cho triển khai thủ tục hải quan điện tử. Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan. Khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử: Ngƣời khai hải quan đƣợc khai và truyền số liệu khai hải quan bằng phƣơng tiện điện tử đến cơ quan Hải quan thông qua tổ chức truyền nhận chứng từ điện tử.
Cơ quan Hải quan xử lý phân luồng hàng hóa và quyết định hình thức kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu số liệu xuất nhập khẩu trên cơ sở phân tích, xử lý thông tin. Ngƣời khai hải quan tự khai, tự nộp thuế và các khoản thu khác, chịu trách nhiệm về nội dung khai của mình.3 Những điểm khác biệt khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử và hải quan thông thƣờng. Theo thủ tục hải quan hiện hành, ngƣời khai hải quan phải lập bộ hồ sơ giấy tại Chi cục Hải quan và đƣợc công chức ở đây kiểm tra, tiếp nhận, đề xuất các biện pháp xử lý tiếp để lãnh đạo Chi cục quyết định các hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa, sau đó quyết định thông quan hoặc xử lý nếu có vi phạm. Hình thức thủ tục này có đặc điểm là ngƣời khai hải quan và công chức hải quan thƣờng xuyên tiếp xúc 12 trực tiếp, việc ra quyết định không dựa trên việc thu thập, xử lý các nguồn thông tin khác nhau mà phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố chủ quan của công chức thừa hành và lãnh đạo Chi cục Hải quan.
Khác với thủ tục hải quan thủ công nhƣ trên, thủ tục hải quan điện tử gồm các nội dung sau: Khai hải quan và xử lý thông tin khai hải quan đƣợc thực hiện bằng phƣơng tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng hồ sơ giấy. Điều này có nghĩa: Ngƣời khai hải quan khai truyền số liệu khai hải quan bằng phƣơng tiện điện tử đến cơ quan hải quan thông qua tổ chức truyền nhận chứng từ điện tử, ngƣời khai hải quan không phải đến cơ quan hải quan để nộp hồ sơ đăng ký tờ khai tại thời điểm tiếp nhận. Hồ sơ hải quan điện tử bảo đảm sự toàn vẹn, có khuôn dạng chuẩn và có giá trị pháp lý nhƣ hồ sơ giấy. Cơ quan hải quan xử lý phân luồng hàng hóa và quyết định hình thức kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử tự động trên cơ sở phân tích, xử lý thông tin.
Ngƣời khai hải quan đƣợc tự khai, tự nộp thuế và các khoản thu khác, đƣợc áp dụng các hình thức nộp hàng tháng đối với lệ phí làm thủ tục hải quan. Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở số tiếp nhận hồ sơ hải quan điện tử do doanh nghiệp gửi tới. Cơ quan hải quan cho phép thông quan dựa trên hồ sơ điện tử do doanh nghiệp khai. Việc kiểm tra hải quan căn cứ vào kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và các nguồn thông tin khác.
Nhƣ vậy, thông quan điện tử không phải là một ƣu đãi về thuế hay về thủ tục mà là thay đổi phƣơng pháp quản lý. Từ việc quản lý thủ công từng lô hàng xuất nhập khẩu chuyển sang quản lý bằng trang thiết bị hiện đại. Và điều đó sẽ thuận tiện cho cả cơ quan Hải quan và doanh nghiệp. Cách làm này giúp cơ quan hải quan chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ phƣơng thức kiểm soát 100 % từng lô hàng sang quản lý toàn bộ thông tin về quá trình hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, tăng cƣờng chống buôn lậu, gian lận thƣơng mại và hạn chế thất thu thuế.
Giảm sự ách tắc trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hóa khiến cho hàng hóa phải bị lƣu kho tại cảng hoặc cửa khẩu, tốn thêm chi phí, thời gian khi thông 13 quan hàng hoá, giúp cơ quan Hải quan tiến hành thông quan nhanh chóng khối lƣợng hàng hóa khổng lồ nhƣ hiện nay. Lợi ích của việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử. Thủ tục hải quan điện tử đƣợc coi là “chìa khóa” của quá trình thông quan nhanh chóng, tạo thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu và cũng là “cuộc cách mạng về phƣơng thức quản lý hải quan”. Thủ tục hải quan điện tử không chỉ đổi mới cơ bản phƣơng thức quản lý hải quan theo hƣớng hiện đại, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế, mà còn có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất nhập khẩu và thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài.
Từ những yếu tố cơ bản trên, trong năm 2010 kết quả tại tại Chi cục Hải quan Đà Lạt đã triển khai trên 96 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và 06 doanh nghiệp ngoài địa bàn tỉnh. Tổng số tờ khai đã thực hiện TTHQĐT (tính đến ngày 31/12/2010) là 5783 tờ khai, tờ khai luồng xanh 3765 tờ khai chiếm 65 %, tờ khai luồng vàng 1495 tờ khai chiếm 26%, tờ khai luồng đỏ 523 tờ khai chiếm 9%. Để đạt đƣợc những thành tích nêu trên, Chi cục Hải quan Đà Lạt đã có nhiều nỗ lực, tập trung đào tạo về kỹ thuật và nghiệp vụ để phát triển nguồn nhân lực phục vụ thủ tục hải quan. Mặt khác, cũng chú trọng công tác tuyên truyền về thủ tục hải quan điện tử qua các hình thức, phƣơng tiện thông tin đại chúng, hội thảo, hội nghị, internet để ngƣời dân và doanh nghiệp hiểu lợi ích mà thủ tục hải quan điện tử mang lại nhƣ: tiết kiệm thời gian đi lại, thời gian làm thủ tục hải quan nhanh, hạn chế tiếp xúc với cán bộ hải quan, giảm thiểu những phiền hà sách nhiễu không cần thiết vv.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi còn một số hạn chế, khó khăn nhƣ: giai đoạn đầu triển khai phần mềm còn lỗi phát sinh cần khắc phục nhanh, một bộ phận cán bộ công chức cần tiếp tục đƣợc bồi dƣỡng thêm về kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ để tác nghiệp nhanh, có hiệu quả. Với thực trạng nhƣ vậy nhƣng đến nay hầu nhƣ chƣa có một nghiên cứu phân tích chuyên sâu, nhằm đánh giá khách quan, nguyên nhân hạn chế của các chủ thể tham gia, chƣa đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp đối với công tác cải cách hành chính công trong dịch vụ hải quan điện tử trên địa bàn tỉnh. 14 Do đó, để góp phần vào việc hoàn thiện, phát triển dịch vụ khai hải quan điện tử nói riêng cũng nhƣ công tác cải cách thủ tục hành chính tại Chi cục Hải quan Đà Lạt nói chung, thì việc tiến hành nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của các doanh nghiệp đối với dịch vụ hải quan điện tử trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” là vấn đề hết sức cần thiết.5 Mục tiêu nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu này đƣợc thực hiện với mục tiêu: 1.
Xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với chƣơng trình khai hải quan điện tử khi thông quan hàng hoá. Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chƣơng trình khai hải quan điện tử khi doanh nghiệp đƣợc thông quan hàng hoá. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.Đối tƣợng nghiên cứu Trong nghiên cứu này, đối tƣợng phỏng vấn chủ yếu là các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và đơn vị Chi cục Hải quan Đà Lạt. Doanh nghiệp có hoạt động về xuất nhập khẩu ít nhất là 365 ngày, không bị cƣỡng chế về thuế, doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, doanh nghiệp thuộc diện đƣợc hƣởng chính sách ân hạn thuế.
Doanh nghiệp thực hiện tốt việc tự khai và tự nộp thuế, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật về hải quan và thuế.Phạm vi nghiên cứu.