CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM THAM NHŨNG VÀ VAI TRÒ CỦA CỤC CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG, KINH TẾ, BUÔN LẬU TRONG PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG 1. Khái niệm tham nhũng, tội phạm về tham nhũng và phòng, chống tội phạm về tham nhũng 1. Khái niệm tham nhũng Thuật ngữ “tham nhũng” (corruption) có gốc từ tiếng La-tinh “corruptus” – nghĩa là lạm dụng (abuse), phá hoại (destroy) hay vi phạm (break). Như vậy, từ gốc rễ của nó, thuật ngữ “tham nhũng” hàm ý những hành vi trái phép hoặc bât hợp pháp.
Quan điểm như trên về tham nhũng cũng có thể tìm thấy trong một số từ điển tiếng Anh hiện đại. Ví dụ, Từ điển Oxford đầy đủ (The Oxford Unabridged Dictionary) định nghĩa corruption là: “sự bóp méo hay phá hoại tính liêm chính trong thực thi công vụ bằng cách hối lộ hoặc đối xử thiên vị”, còn từ điển của trường Merriam Webster (the Merriam Webster’s Collegiate Dictionary) thì xác định corruption là: “sự khuyến khích điều xấu bằng những cách thức sai trái hoặc phi pháp (chẳng hạn như hối lộ)”. Tuy nhiên, xét về mặt pháp lý, cho đến thời điểm hiện nay chưa có một định nghĩa chung về tham nhũng được thừa nhận và áp dụng một cách chính thức và rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention Against Corruption – UNCAC) – văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản nhất về vấn đề này cũng không đưa ra một định nghĩa về tham nhũng.
Thay vào đó, UNCAC chỉ xác định một tập hợp những hành vi cần được coi là tham nhũng. 9 Trong số sáu điều ước quốc tế chủ chốt về chống tham nhũng tính đến thời điểm hiện nay (tính cả các công ước có hiệu lực toàn cầu hoặ trong khu vực), duy nhất chỉ có Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng Châu Âu (thông qua tại các cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai ở Strasbourg tháng 10/1997) có đưa ra việc định nghĩa tham nhũng, theo đó, tham nhũng được xác định là: “…việc đòi hỏi, gợi ý, đưa ra hoặc trực tiếp hay gián tiếp nhận của hối lộ hoặc lợi thế bất chính khác, hay triển vọng về của hối lộ hay lợi thế bất chính đó, làm ảnh hưởng đến sự thực hiện đúng đắn nhiệm vụ hoặc công việc của người nhận hối lộ hoặc nhận lợi thế bất chính hoặc triển vọng của người đưa hối lộ hay lợi thế bất chính đó”. Tuy nhiên, Công ước này chỉ có hiệu lực trong phạm vi châu Âu. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do những nỗ lực xây dựng một định nghĩa chung về tham nhũng luôn gặp phải những khó khăn xuất phát từ sự khác biệt về nhận thức, quan điểm giữa các quốc gia.
Những khác biệt này không chỉ liên quan đến các khía cạnh về pháp lý, văn hóa, mà đôi khi là cả về khía cạnh chính trị của tham nhũng. Mặc dù vậy, xuất phát từ những góc độ khác như học thuật hay quản trị, từ trước đến nay đã có một vài định nghĩa về tham nhũng do một số tổ chức quốc tế công bố, mà có thể sử dụng để tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và thực tế hoạt động phòng, chống tham nhũng. Ví dụ, theo Ngân hàng thế giới, tham nhũng là “hành vi lạm dụng quyền lực công để thu lợi ích riêng”. Còn theo Tổ chức Minh bạch quốc tế thì tham nhũng được xem là “hành động lạm dụng quyền lực được giao để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên công quyền, có thể là các nhà chính trị hoặc viên chức”.
Hai định nghĩa nêu trên của WB và TI có tính hấp dẫn bởi sự rõ ràng, cô đọng, súc tích, tuy nhiên, theo Ngân hàng Phát triển châu Á, nhược điểm của những định nghĩa này là chưa chú trọng đúng mức đến tham nhũng ở khu vực tư 10 và tác động của việc chống tham nhũng ở khu vực này với cuộc chiến chống tham nhũng ở khu vực công. Vì vậy, ADB đã đưa ra hai định nghĩa dựa trên sự sửa đổi, bổ sung những định nghĩa kể trên của WB và TI. Định nghĩa thứ nhất có nội dung ngắn gọn, xác định tham nhũng là: “sự lạm dụng quyền lực công hoặc tư để thu lợi riêng”. Định nghĩa thứ hai có nội dung toàn diện hơn, xác định tham nhũng là: “hành động lạm dụng chức vụ để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư, hoặc để tạo cơ hội cho những kẻ khác làm như vậy”.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam thì: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng quy định cụ thể người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm: - Cán bộ, công chức, viên chức; - Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; - Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; - Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; - Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. 11 Tại Việt Nam, nạn tham nhũng và tính chất nguy hiểm của nó đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xác định là một trong những nguy cơ uy hiếp sự tồn vong của chế độ. Do đó, ngày 01/02/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban chỉ đạo, có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước.
Khái niệm tội pham về tham nhũng Từ góc độ tội phạm học, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy đinh và trừng phạt theo pháp luật hình sự của một quốc gia. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Căn cứ khái niệm về tội phạm và khái niệm tham nhũng đã nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tội phạm về tham nhũng như sau: Tội phạm về tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, có chức vụ, quyền hạn thực hiện bằng cách lợi chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Hiện tại ở Việt Nam, tội phạm về tham nhũng được quy định tại Mục 1, Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 07 tội danh cụ thể đó là: - Tội tham ô tài sản; 12 - Tội nhận hối lộ; - Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; - Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ; - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; - Tội giả mạo trong công tác.
Khái niệm phòng, chống tội phạm về tham nhũng Theo nhận thức chung, phòng, chống tội phạm là các hoạt động đa dạng do các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân tiến hành, hướng tới việc loại trừ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội; phát hiện, điều tra, xử lý mội khi tội phạm xảy ra, nhằm từng bước ngăn chặn, hạn chế và tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Phòng, chống tội phạm có hai nội dung cơ bản: Phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm, trong đó: - Phòng ngừa tội phạm là việc ngăn chặn, loại trừ nguyên nhân và điều kiện nảy sinh tội phạm; hạn chế những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho xã hội, đảm bảo ANTT, giữ vững sự ổn định của xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân. Hoạt động phòng ngừa tội phạm về cơ bản lại được phân thành hai nhóm gồm: (1) Nhóm các biện pháp phòng ngừa xã hội (biện pháp phòng ngừa chung). Đây là những biện pháp do các cơ quan, tổ chức xã hội và Nhà nước tiến hành, sử dụng hệ thống các biện pháp chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục và pháp luật nhằm phát triển xã hội, góp phần hạn chế hoặc loại trừ những yếu tố có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện của tội phạm.
Đây là những biện pháp do các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ chuyên trách trong lĩnh vực này tiến hành, sử dụng hệ thống các biện pháp pháp luật – nghiệp vụ 13 nhằm mục đích chủ động phát hiện, ngăn chặn và loại trừ những nguyên nhân và điều kiện tội phạm. - Đấu tranh chống tội phạm là việc phát hiện, điều tra kịp thời, nhanh chóng, có hiệu quả mỗi khi tội phạm xảy ra, nhằm đảm bảo mọi hành vị phạm tội đều bị phát hiện và xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Hoạt động này bao gồm: Phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và thi hành án hình sự.