PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau Đại hội lần thứ 6 của Đảng, đất nƣớc ta chuyển sang một bƣớc ngoặc mới, một thời kỳ mới với nhiều đổi mới về kinh tế, chính trị. Một trong những vấn đề đƣợc Đảng, nhà nƣớc đặc biệt chú trọng đó là xây dựng bộ máy nhà nƣớc trong sạch, vững mạnh, để làm đƣợc điều này thì công tác phòng, chống tham nhũng đối với cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc quan tâm hàng đầu. Chính vì vậy năm 1998 Ủy ban thƣờng vụ quốc hội (UBTVQH) đã ban hành Pháp lệnh Chống tham nhũng ngày 26/02/1998 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/1998 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998).
Khi xây dựng Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 UBTVQH đã chú trọng đến công tác kê khai tài sản của cán bộ, công chức, cụ thể tại Điều 14 của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 đã quy định cụ thể các loại tài sản phải kê khai, đối tƣợng phải kê khai tài sản và phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc kê khai. Với quy định về việc kê khai tài sản cho thấy ngay từ ban đầu Đảng và Nhà nƣớc ta đã quan tâm đến công tác kê khai tài sản trong việc chống tham nhũng lúc bấy giờ. Trãi qua nhiều năm thực hiện Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, nhằm đáp ứng cho công tác phòng chống tham nhũng trong thời kỳ mới. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005).
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã có những điều chỉnh mới cho phù hợp với tình hình mới, trong đó công tác kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức đƣợc quan tâm cụ thể hóa thành luật và đƣợc đánh giá là công cụ nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã mở rộng đáng kể các loại tài sản và đối tƣợng phải kê khai so với Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998. Tuy nhiên, lợi ích vật chất đã khiến không ít cán bộ, công chức hám danh, hám lợi sẵn sàng tham nhũng tài sản công cho cá nhân mình. Cụ thể trong thời gian vừa qua có nhiều vụ 2 án tham nhũng đƣợc phát hiện, với số lƣợng tài sản tham nhũng rất lớn, thậm chí có thể nói là lớn nhất từ trƣớc đến nay.
Bên cạnh đó giá trị tài sản thất thoát do tham nhũng không thể thu hồi cũng khá lớn, gây thất thoát rất nhiều tài sản của nhà nƣớc. Pháp luật đã có quy định về việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, quy định này đƣợc xem là công cụ nhằm phòng ngừa và phát hiện tham nhũng, mặc khác nó còn giúp phát hiện việc che giấu tài sản tham nhũng nhƣng vì sao số lƣợng các vụ án tham nhũng đƣợc phát hiện ngày càng nhiều? Phải chăng chính nhờ việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức mà các vụ án tham nhũng đƣợc phát hiện. Tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức đã đƣợc kê khai đầy đủ nhƣng vì sao khi phát hiện hành vi tham nhũng thì tỉ lệ thu hồi đƣợc tài sản tham nhũng lại thấp. Việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức có góp phần vào việc phòng ngừa hành vi tham nhũng hay không? Với nhiều vấn đề đƣợc đặt ra nêu trên, hiện nay Quốc hội đang thảo luận cho ý kiến về việc sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, trong đó có vấn đề về việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.
Nhận thấy vấn đề kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức hiện nay là vấn đề quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng nên tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức trong bối cảnh phòng chống tham nhũng ở nƣớc ta hiện nay” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Tuy chỉ là một công trình nghiên cứu của cá nhân và còn nhiều hạn chế nhƣng tác giả mong muốn góp những hiểu biết, những đề xuất hữu ít của mình vào công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay. Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu: trên cơ sở nghiên cứu các quy định về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức đƣợc quy định trong pháp luật Việt Nam, tác giả xác định luận văn cần phải hƣớng vào trình bày một số giả thuyết khoa học sau: Thứ nhất: kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức là một trong những biện pháp nhằm phát hiện kịp thời những tài sản, thu nhập hình thành một cách bất hợp lý, không phù hợp, từ đó xác định đƣợc những tài sản, thu nhập do tham 3 nhũng mà có. Quy định kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức góp phần đáng kể vào việc phòng ngừa và phát hiện tham nhũng.
Thứ hai: việc triển khai thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức ở nƣớc ta hiện nay đạt đƣợc những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức ở nƣớc ta hiện nay vẫn còn nhiều điều bất cập. Quy định về đối tƣợng kê khai tài sản, thu nhập vẫn còn chƣa phù hợp. Phạm vi công khai các bản kê khai tài sản, thu nhập vẫn còn rất hẹp, chƣa đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, cơ quan báo chí, truyền thông.
Cơ chế kiểm soát và xác minh tài sản thu nhập của cán bộ công chức vẫn chƣa mang lại hiệu quả nhƣ mong đợi. Bên cạnh đó chế tài đối với các tài sản không giải trình đƣợc, không rõ nguồn gốc chƣa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Thứ ba: trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức hiện nay, chúng ta cần những giải pháp mang tính tổng thể nhằm phát huy hiệu quả việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức ở nƣớc ta hiện nay. Câu hỏi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ công chức trong công tác phòng chống tham nhũng ở nƣớc ta hiện nay? Việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức trong công tác phòng chống tham nhũng ở nƣớc ta hiện nay đang gặp phải những vấn đề bất cập gì? Để giải quyết những bất cập nêu trên thì chúng ta cần những giải pháp nào? 3.
Tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết khoa học nghiên cứu về vấn đề kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ công chức trong công tác phòng chống tham nhũng điển hình nhƣ. 4 Các bài viết của các tác giả: Phạm Thanh Hà (2016), Kê khai tài sản, thu nhập góp phần phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực I; Đặng Thị Hà (26/5/2017), Bàn về kê khai và công khai tài sản trong Luật Phòng, chống tham nhũng, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số 302, năm 2017); Trần Văn Long, Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình trong phòng, chống tham nhũng, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số 291, năm 2016); Nguyễn Minh Hằng và Nguyễn Minh Thái - Phòng chống rửa tiền trong điều kiện hội nhập quốc tế và yêu cầu hoàn thiện pháp luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật (số 291, năm 2016); Nguyễn Ngọc Điện, Hoàn thiện công cụ pháp lý phòng, chống tham nhũng: Bảo đảm minh bạch tài sản và thông tin, thông tin khoa học trƣờng Đại học kiểm sát Hà Nội; Báo cáo củs Soren Davidsen và cộng sự, đánh giá công tác thực hiện Luật Phòng, Chống tham nhũng: Việt Nam đã đạt đƣợc những gì? Ellen M. Katz (1999) - Sự minh bạch trong chính phủ, ấn phẩm của Chƣơng trình thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; Vũ Văn Nhiêm (2007), Quyền đƣợc thông tin từ góc độ bảo đảm quyền con ngƣời và liên hệ với dự luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 170; Nguyễn Hà Thanh (2016), kinh nghiệm quốc tế về công khai, minh bạch tài sản thu nhập của cán bộ, công chức; Nguyễn Thanh Hải (2018), một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập của ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong thời gian tới; Lƣu Thanh Tùng, bài viết tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tƣ theo Công ƣớc UNCAC và vấn đề hoàn thiện bộ luật Hình sự Việt Nam, tạp chí Tòa án tháng 3 năm 2018; Vũ Hải Yến - Tổ chức Hƣớng tới Minh bạch (2015), bài viết Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong khu vực tƣ; Phan Xuân Sơn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bài viết kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng ở một số nƣớc trên thế giới, tạp chí Mặt trận tháng 5 năm 2017. Huỳnh Phƣớc Hậu (4/2012), luận văn - Quy định của pháp luật Việt Nam về kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức – Trƣờng Đại học Cần thơ.
5 Các bài viết, luận văn của các tác giải nêu trên nhìn chung đã nêu lên khái quát đƣợc các quy định của pháp luật Việt Nam về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ công chức và một số bất cập. Tuy nhiên, nhìn chung các bài viết trên chƣa đi sâu nghiên cứu các bất cập trong tình hình hiện nay và các giải pháp mang tính hiệu quả cao trong việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nƣớc ta. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: thông qua đề tài tác giả muốn làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam về kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nƣớc ta hiện nay và so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật cũ, qua đó có cái nhìn toàn diện hơn về quy định kê khai tài sản, thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức. Bên cạnh đó qua việc tìm hiểu các quy định về kê khai tài sản thu nhập còn nhằm tìm ra những quy định còn hạn chế, chƣa phù hợp với thực tiễn hiện nay.