Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị -4- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về quản trị NNL 2. Khái niệm về quản trị NNL Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”.
Vì vậy, nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình SXKD. Đồng quan điểm này, Trần Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010) cho rằng “NNL là tất cả các cá nhân (người lao động cùng với kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ đào tạo, nỗ lực cá nhân) có vai trò khác nhau, được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định, tham gia thực hiện các hoạt động của một tổ chức”. Theo Armstrong (1980), “QTNNL là các hoạt động mang tính tổ chức hướng đến việc quản lý những nguồn lực về con người nhằm đảm bảo những nguồn lực này đang được sử dụng để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức”. Singh (2004) đưa ra các vấn đề chủ chốt trong thực tiễn QTNNL gồm: “phân tích công việc, tuyển dụng, đào tạo, đánh giá người lao động, hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến, thu hút NV tham gia các hoạt động, đãi ngộ lương thưởng”.
Các hoạt động này có quan hệ chặt chẽ, phục vụ cho việc tạo dựng và duy trì DNNV có năng lực, gắn kết và đóng góp tích cực cho tổ chức. Trần Kim Dung, (2011) cho rằng “QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn NV”. Nguyễn Ngọc Quân (2010) định nghĩa “QTNNL là tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó” Nguyễn Hữu Thân, 2012) cũng cho rằng “QTNNL là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức” -5- Theo Storey (1995), “qTNNL là một phương pháp quản trị nhân lực để đạt lợi thế cạnh tranh thông qua các chiến lược triển khai một lực lượng lao động có năng lực và gắn bó, bằng cách kết hợp văn hóa tổ chức và nhân sự”. “Quản trị NNL cũng bao gồm những hoạt động thiết kế để cung cấp và đi điều phối NNL” (Byars và Rue, 2004).
Dessler (2005) xem “QTNNL là những chính sách và hoạt động liên quan đến phương diện “con người” hay NNL của một vị trí quản trị, bao gồm tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo, đánh giá, và thưởng”. Trong nghiên cứu này, tác giả kế thừa khái niệm quản trị NNL của Nguyễn Hữu Thân (2012). Theo đó, đối tượng của QTNNL là người lao động với tư cách là những cá nhân CBCC trong tổ chức và các vấn đề có liên quan đến họ như công việc và các quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức. Quản trị NNL hướng tới các mục tiêu cơ bản sau: - “Mục tiêu xã hội: Quản trị NNL thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động”.
- “Mục tiêu của tổ chức: Mục tiêu của tổ chức là việc cung cấp nhân sự để từng bộ phận thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của riêng nó phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ tổ chức. Các chỉ tiêu đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Tổng lợi nhuận; tỷ suất lợi nhuận; lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm (dịch vụ); thời hạn hoàn vốn cố định; vòng quay vốn lưu động; năng xuất lao động; thu nhập bình quân”. - “Mục tiêu cá nhân: Đây là mục tiêu quan trọng, bởi nếu đáp ứng được mục tiêu cá nhân của người lao động sẽ góp phần động viên, khích lệ họ nỗ lực hoàn thành tốt nhất công việc, điều này sẽ dẫn tới thành công của tổ chức. Người lao động cần việc làm ổn định; đánh giá đúng năng lực, đúng sự đóng góp; được đối xử công bằng; có triển vọng trong công việc, thu nhập; an toàn trong công việc”.
Khái niệm về thực tiễn quản trị NNL Kerr và Slocum (1987) cho rằng “thực tiễn quản trị NNL có thể đóng vai trò như những tiêu chí giám sát nguồn tài nguyên, phần thưởng và tình trạng phân bổ -6- trong tổ chức và các tiêu chí được sử dụng để tuyển dụng, lựa chọn, thúc đẩy, nghỉ hưu hoặc trừng phạt các thành viên của tổ chức”. Lado và Wilson(1994) mô tả “thực tiễn QTNNL là một tập hợp các hoạt động riêng biệt nhưng liên quan đến nhau, chức năng,và quy trình hướng vào việc thu hút, phát triển và duy trì " nguồn tài nguyên con người " của một công ty. Thực tiễn QTNNL đóng góp đáng kể vào thành tựu của một công ty tạo ra mục tiêu và tăng thêm giá trị cho khách hàng và nguồn lực vật chất” Wright và cộng sự (1994) cho rằng “thực tiễn QTNNL là các hoạt động mang tính tổ chức hướng đến việc quản lý những nguồn lực về con người để đảm bảo các nguồn lực này đang được sử dụng để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức”. Trần Kim Dung và cộng sự (2015) cho rằng “thực tiễn quản trị NNL liên quan đến tất cả các quyết định và hành động quản trị đối với những người thực sự thực hiện công việc trong một tổ chức”.
Các thành phần của thực tiễn quản trị NNL Thực tiễn quản trị NNL như chức năng thực tế mà nhà quản trị áp dụng tại doanh nghiệp của mình, từ đó cụ thể tạo nên các thành phần của thực tiễn quản trị NNL, như: Wall và Wood (2005) tổng hợp 25 bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị NNL và kết quả hoạt động của DN, thì rút kết ra được 15 thành phần. Tương tự, Bosilie và cộng sự (2005) rút ra 26 thành phần trong 104 bài nghiên cứu, Hyde và cộng sự (2006) tổng hợp 10 thành phần trong 97 bài nghiên cứu chính thức 1994 -2004 và Combs và cộng sự (2006) đưa ra 13 thành phần trong 92 bài nghiên cứu 1990-2005. Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện ở các nước phát triển sẽ không phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam. Cụ thể: Theo Guest (1997), “thực tiễn quản trị NNL gồm 8 thành phần: tuyển dụng, đào tạo, trả công lao động, thiết kế công việc, sự tham gia, đánh giá, tình trạng và sự an toàn”.
Việc thiết kế công việc và lập bảng mô tả công việc tại Việt Nam chưa được nhà quản trị quan tâm và chú trọng. -7- Pfeffer (1998) cho rằng “có 7 thành phần thực tiễn tốt nhất: an toàn trong công việc, tuyển dụng, đội tự quản, trả công lao động, đào tạo, giảm khoảng cách về lương, mở rộng chia sẻ thông tin”. Ramlall (2003) đã đo lường việc nâng cao hiệu quả của thực tiễn QTNNL thông qua các thành phần: “Lập kế hoạch chiến lược; Thu nhận người lao động (Acquisition of employees); Đào tạo & Phát triển; Phát triển & thay đổi tổ chức; Quản lý kết quả làm việc; Hệ thống lương, thưởng; Lý thuyết & hành vi tổ chức” Singh (2004) nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy được 7 thành phần: “xác định công việc, tuyển dụng, đào tạo, đánh giá NV, thăng tiến, sự tham gia của NV, trả công lao động”. Mô hình nghiên cứu của Zubair A Marwat & Qureshi M Tahir (2011) về thực tiễn quản trị NNL và kết quả làm việc của NV, thực tiễn quản trị NNL gồm có 07 thành phần: “Tuyển dụng; Đào tạo; Đánh giá kết quả làm việc; Hoạch định nghề nghiệp; Mức đãi ngộ lương, thưởng; Sự tham gia của NV; Xác định công việc” Aftab Tariq Dar và cộng sự (2014) nghiên cứu tại các ngân hàng Hồi giáo ở Pakistan cho thấy “5 thành phần của thực tiễn quản trị NNL sau tuyển dụng: đào tạo – phát triển, hệ thống phát triển công việc, đánh giá kết quả công việc, trả công lao động bên trong và bên ngoài”.
Ngoài ra, có các nghiên cứu ở các nước phát triển và tại Việt Nam như: Lê Chiến Thắng và Trương Quang (2005) nghiên cứu về thực tiễn QTNNL tại Việt Nam bao gồm các thành phần: “trao đổi thông tin, hiệu quả quản lý, đào tạo và phát triển, định hướng nhóm, duy trì sự quản lý”. Trần Kim Dung (2009): “Thực tiễn quản trị NNL gồm 7 thành phần: xác định nhiệm vụ, công việc; thu hút, tuyển chọn; đào tạo; đánh giá kết quả làm việc của NV; quản lý lương thưởng; phát triển quan hệ lao động; thống kê nhân sự; thực hiện quy định Luật pháp; và khuyến khích thay đổi”. Theo Trần Kim Dung (2010): Nghiên cứu cho thấy thang đo thực tiễn quản trị NNL có 7 thành phần: “Tuyển dụng, Đào tạo, Đánh giá kết quả làm việc, Trả công lao động, Quản trị tài năng, Thăng tiến, Tuân thủ pháp luật”. -8- Trần Kim Dung và cộng sự (2015): “Nghiên cứu mối quan hệ thực tiễn quản trị NNL và kết quả hoạt động của doanh nghiệp có 8 thành phần: tuyển dụng, đào tạo, trả công lao động, tuân thủ luật pháp, đánh giá kết quả làm việc, động viên, cải tiến và quản trị tài năng” Tóm lại, “thực tiễn quản trị NNL đóng vai trò như tiêu chí giám sát các nguồn lực trong tổ chức, liên quan đến các quyết định, hoạt động quản trị đối với những người thực sự thực hiện công việc trong tổ chức”.1: Bảng tổng hợp thành phần của thực tiễn quản trị NNL Guest Pfeffer Singh Aftab.
T Trần Kim Trần Kim Trần Kim Biến (1997) (1998) (2004) (2014) Dung (2009) Dung (2010) Dung (2015) Tuyển dụng x x x x x x Đào tạo - phát triển x x x x x x x Trả công lao động x x x x x x x Pháp luật x x Quản trị sự thay đổi x x Đánh giá x x x x x x Sự an toàn x Sự tham gia x x x x Tình trạng x Thiết kế công việc x Giảm khoảng cách x về lương Mở rộng chia sẻ x thông tin Quản trị tài năng x Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2022.