Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ 1. Chính quyền cơ sở và đội ngũ cán bộ, công chức chính quyên cơ sở 1. Chính quyền cơ sở ở Việt Nam * Ở nước ta, chính quyền cơ sở (hay chính quyền xã, phường, thị trấn) luôn được coi là thực thể tồn tại khách quan, cần thiết trong hệ thống bộ máy chính quyền Nhà nước. Nó tồn tại như một tất yếu lịch sử, là cơ sở cho sự phát triển Nhà nước, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực, tài lực cho phát triển mọi mặt của đất nước.
Vì vậy, chính quyền cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển bên vững của quốc gia. Cấp cơ sở chiếm khoảng 85% đơn vị hành chính của cả nước, là nơi giao lưu trực tiếp giữa chính quyền Nhà nước với đại đa số cư dân đất nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương của Nhà nước ta, chính quyền cơ sở là tế bào hạt nhân nhỏ nhất tạo nên mạng lưới tổ chức Nhà nước, dưới cấp xã, phường, thi trấn không còn cấp hành chính lãnh thổ nào. Chính quyền cơ sở là chính quyền Nhà nước thấp nhất, nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Quyền lực Nhà nước được chính quyền cơ sở tổ chức thực hiện đưa vào đời sống thực tế, tác động vào các quan hệ xã hội ở cơ sở, điều chỉnh hoạt động của mỗi tổ chức, cá nhân sinh sống trên địa bàn xã, phường, thị trấn. Chính quyền cơ sở (bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thi trấn) trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở địa phương, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân. Trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, sự hoạt động có hiệu quả của chính quyền cơ sở đóng vai trò quan trọng trong quản lý và cung cấp dịch vụ, phục vụ cho nhân dân của bộ máy Nhà nước. Từ kết quả hoạt động đó, chính quyền Nhà nước ở Trung ương điều chỉnh đúng, sát thực tế trong quản lý vĩ mô và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
LUẬN VĂN THẠC SY LUẬT HỌC Nguyén Thi Lan Anh Chính quyền cơ sở bao gồm: chính quyền xã và chính quyền phường, thị trấn. Chính quyền phường, thị trấn có những đặc điểm khác với chính quyền xã. Chính quyền xã quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dan cư trên dia bàn, không có nhiệm vụ quản lý đô thị. Chính quyền phường, thị trấn không quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cư trên địa bàn.
Nhưng lại có nhiệm vụ quan trọng trong quản lý đô thị trên các mặt: quản lý thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, hộ tịch, vệ sinh môi trường, trật tự đô thị. nhưng mặt khác, ở đô thị, quản lý Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất cao, quản lý theo ngành dọc, xuyên suốt địa bàn toàn thành phố, thị xã, thị trấn. Chính quyền phường chỉ tham gia cộng quản và thực hiện những gì được phân cấp, được uỷ quyền, do đó cần phân biệt rõ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ, giữa các cơ quan quản lý theo ngành và chính quyển phường, thị trấn để khắc phục tình trạng lẫn lộn, không ai chịu trách nhiệm. Và lực lượng có trọng trách lớn để thực hiện được những nhiệm vụ đó của chính quyền cơ sở chính là đội ngũ cán bộ, công chức.
Chính quyền cơ sở hoạt động như thế nào phụ thuộc vào chính năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ này. Khái niệm và đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở * Khái niệm Cán bộ, công chức theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003 là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); LUẬN VĂN THẠC SY LUẬT HỌC Nguyén Thi Lan Anh b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tinh, cấp huyện; c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nóc ở trung uong, cấp tinh, cấp huyện; d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vi thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; 9) Những người do bầu cu để dam nhiệm chức vu theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong đó, cán bộ, công chức quy định tại điểm g và điểm h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh là cán bộ, công chức cấp xã bao gồm tất cả các cán bộ, công chức làm việc tại HĐND, UBND, tổ chức chính trị, tổ chức chính tri - xã hội của cấp xã. Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn chỉ nghiên cứu ý thức pháp luật của cán bộ, công chức chính quyền cơ sở tức là chỉ nghiên cứu ý thức pháp luật của cán bộ, công chức làm việc tại HĐND và UBND của cấp cơ LUẬN VĂN THẠC SY LUẬT HỌC Nguyén Thi Lan Anh 10 sở; loại trừ cán bộ, công chức làm việc tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Cụ thể, theo Điều 2 Nghị định số 114/2003/ND - CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định cán bộ, công chức chính quyền cơ sở bao gồm những đối tượng sau: - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (gọi là cán bộ chuyên trách cấp xã) gôm có các chức vụ: Bí thư, phó bí thu Đảng uy, Thường trực Dang uy (nơi không có phó bí thu chuyên trách công tác Đảng), Bí thư, phó bí thư chỉ bộ (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp xã); Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch Uy ban nhân dân; - Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã) gồm có các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân su; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dung; Tài chính - Kếtoán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã hội. Tóm lại: Cán bộ, công chức chính quyền cơ sở bao gồm những người sau: Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ (nơi không có phó bí thư chuyên trách công tác Đảng); Bí thư, phó bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng uỷ cấp Xã); Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp cơ sở; Chủ tịch, phó chủ tịch Uy ban nhân dân cấp cơ sở; Trưởng công an; Trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Địa chính - Xây dựng; Văn hoá - thông tin. * Đặc điểm: Bên cạnh những đặc điểm chung của cán bộ, công chức như: là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. thì cán bộ, công chức chính quyền cơ sở có những đặc điểm riêng.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, cán bộ chính quyền co sở là cán bộ dân bầu, không thoát ly sản xuất. Người cán bộ chính quyén cơ sở không những là đại biểu của nhân dân trong xã, phường, thị trấn mà còn là đại biểu của chính quyền dân chủ LUẬN VĂN THẠC SY LUẬT HỌC Nguyén Thi Lan Anh lãi nhân dân. Nếu có cán bộ nào trong chính quyền cơ sở không làm tròn trách nhiệm của mình, không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì nhân dân bãi miễn. Do bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ tình cảm chi phối nên cán bộ, công chức chính quyền cơ sở rất khó khách quan và không quyết trong khi giải quyết công việc vì nếu họ làm mất lòng dân thì khoá sau dân sẽ không bầu.
Chính vì vậy, họ phải chịu rất nhiều sức ép của nhân dân địa phương, trong khi đó thì cấp trên liên tục yêu cầu, thúc giục họ thực hiện những nhiệm vụ được giao. Qua là không sai khi nói họ là những người “trén đe, dưới búa”, “trăm dâu đổ đâu tằm”; làm mạnh, làm kiên quyết thì sợ mất lòng nhân dân, nhưng nếu không làm mạnh, làm kiên quyết thì bị cấp trên phê bình vì không hoàn thành nhiệm vụ nên dẫn đến tình trạng “đối trén, lừa dưới ” để lấy thành tích. Mặt khác, do dân bầu, người nào lấy được nhiều tình cảm của nhân dân thì người đó trở thành cán bộ chuyên trách mà không có một yêu cầu nào cả nên xảy ra tình trạng cán bộ chuyên trách trình độ thấp, chưa được đào tạo bài bản, thậm chí có nhiều người mới chỉ có trình độ văn hoá cấp 2 mà vẫn được bầu, trong khi trình độ của quần chúng nhân dân ngày càng cao dẫn đến hậu quả: là những người như vậy thường gặp nhiều khúc mắc, hạn chế, lúng túng, sai lầm khi giải quyết công việc. Thứ hai, Về trình độ văn hoá, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn và kiến thức quản lý Nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở ở mức độ tương đối thấp so với cán bộ, công chức chính quyền cấp trên và so với yêu cầu của thời đại ngày nay.