CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE ĐẠO ĐỨC 1. KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC Những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện từ rất sớm trong triết học Trung Quốc, Án Độ, Hy Lạp cổ đại. Đạo đức là một từ Hán Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Dao là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên.
Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hôn [52]. Dé hiểu đạo đức là gì, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu từ nguyên của nó. Trong tiếng Việt, nghĩa của từ “đạo đức” và “luân lý” gần gần giống nhau. Dé hiểu rõ nội dung của đạo đức cần đi tìm ý nghĩa của từ đạo đức và luân lý.
Theo “Hán — Việt Từ điển” đạo đức bao gồm “Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức — Cái lý pháp người ta nên noi theo”. Theo Từ điển Tiếng Việt thì từ “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người đo tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có. Còn từ “luân lý” có nghĩa là “những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội” [7, tr.
Gắn với sự ra đời của triết học là sự hình thành của đạo đức với vấn dé là lý luận của đạo đức và là một bộ phận của triết học, từ khi đạo đức ra đời có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về đạo đức. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là 12 lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người va người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày.
Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học. “Đạo đức học hay luân lý học là môn học nghiên cứu tiêu chuẩn và nguyên tac đề xác định giá trị hành vi con người là tốt hoặc xấu”. Còn từ “moral” là “những nguyên tắc quyết định điều tốt trong quan hệ đạo đức giữa người với người” [42, tr. Quan niệm về đạo đức trong triết học Phương Đông Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ.
Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. “Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội. Từ thé ky XVI trước công nguyên, Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớn của đạo đức đối với xã hội.
Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là luận bàn về đạo đức. Khổng Tử đã khuyên học trò của mình “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ông muốn xã hội phát triển bình 6n, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý. Dé thực hiện được ý tưởng đó, Ông đề ra năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người được gọi là nhân luận, Mạnh tử gọi là ngũ luận: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè.
Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đồng Trọng Thư gọi là Tam cương - ba sợi dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đình đến ngoài xã hội. “Đức” chính là các phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ cơ bản trên. Khổng Tử nhấn mạnh “Tam đức” (nhân, tri, ding); ở Mạnh Tử là “Tứ đức” 13 (nhân, nghĩa, lễ, trí); Đồng Trọng Thư là “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Tam cương và ngũ thường được kết hợp và gọi tắt là đạo cương - thường.
Cương - thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chỉ phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc dé đánh giá phẩm hạnh của con người. Tuy không phải là người đầu tiên bàn đến vấn đề đạo đức, nhưng Khổng Tử đã có công lao rất lớn trong việc tông kết kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, từ đó Ông đã xây dựng học thuyết đạo đức chứa đựng nhiều nội dung: Đó là ý thức với bản thân, ý thức với xã hội, đặt các mối quan hệ của con người trong mối tương quan xã hội, cách ứng xử và hành vi của con người. Đạo đức Phật giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội, Phật giáo cũng như mọi tôn giáo, cũng mang trong nó những giá trị tư tưởng, như là sự phản ánh khát khao vươn tới chân - thiện - mỹ của chính loài người; Đạo đức Phật giáo, theo tiến trình lịch sử, là tôn giáo trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, văn minh nhân loại. Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã đề lại cho nhân loại nhiều tư tưởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn héa,.trong đó nổi bật nhất là tư tưởng đạo đức.
Phật giáo về cơ bản không phải là một học thuyết về đạo đức, song xuất phát điểm của nó là chỉ dạy cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát. Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng dé xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức. Như vậy, đạo đức là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo. Dao đức Phật giáo là sự kết tinh đặc sắc tư tưởng, văn hóa An Độ cổ song đến nay đã trở thành một điển hình đạo đức phương Đông trong toàn giá trị đạo đức của nhân loại.
Trong đó có nhiều nội dung giáo dục đạo làm người tích cực đôi với xã hội. 14 Song về mặt đạo đức, đức Phật đã tiếp thu một cách có lựa chọn những giá trị đạo đức truyền thống. Đặc biệt, tuy chống lại tư tưởng bat bình đẳng tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng Phật giáo đã không phủ nhận sạch trơn những chuẩn mực đạo đức truyền thống mà đã tích hợp được. Ở Phật giáo, mục tiêu thực hiện giải thoát cũng chính là thực hiện tu dưỡng đạo làm người.
Với tư cách một tôn giáo xây dựng trên niềm tin "giải thoát con người khỏi nỗi khổ tram luân", nhưng Phật giáo lại là một tôn giáo có khuynh hướng vô thần. Do vậy, giải thoát là sự nghiệp của chính mỗi người bằng việc tích lũy các nghiệp thiện và đứt bỏ hết các nghiệp ác chứ không nhờ vào sự ban cho của bất kỳ dang thần linh nào. Đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo. Đạo Phật xem quy luật nhân quả nghiệp báo như là cái chìa khóa, giúp lý giải tất cả mọi sự vật và hiện tượng diễn biến trong tự nhiên và xã hội.
Day là một quy luật có giá trị khách quan nhất, công bằng nhất, quy luật nhân quả nghiệp báo đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với cá nhân, cũng như đối với cộng đồng và xã hội. Phật giáo còn là một trong những tôn giáo sớm đưa tiêu chuẩn làm người gắn liền với phẩm chất thân thiện. Phật giáo đã đặt ra một số quy định về thái độ ứng xử đối với tự nhiên theo nghĩa rộng. Đạo đức Phật giáo thông qua những giáo luật, giáo lý và các giá trị, chuẩn mực đã đi vào cuộc sóng của con người.
Dao đức Phật giáo đã thực sự đi vào cuộc sống, đi vào tâm linh mỗi con người. Trong giáo lý “Bát chính đạo” đức Phật có đề cập đến “chính mệnh” sinh sống bằng nghề nghiệp chân chính. Triết lý của Phật giáo về Từ bi, về tình thương yêu của con người và giàu lòng nhân ái. Những giá trị, khuyến thiện, hướng thiện không chỉ phát huy tác dụng trong hàng ngũ tín đồ mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống nhân dân, góp phần hình thành nên những quan niệm sống giàu tính nhân văn sâu sac.
15 Với triết lý từ bi, hy xả, khuyến khích con người hướng thiện, đạo đức Phật giáo đã dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống, vị tha, bình đẳng, bác ái. Đạo đức làm người của Phật giáo có điểm mạnh riêng ở chỗ tuy là một tôn giáo song lại dựa trên nền tảng triết lý duyên khởi, vô ngã nên mang tính vô thần. Quan niệm nhân quả - nghiệp báo của Phật giáo có yếu tố tâm linh huyền bí, tuy không kiểm chứng được hết bằng khoa học hiện đại, song cũng không thé phủ định các yếu tố hợp lý của thuyết này, và trên phương diện đạo đức làm người, quan niệm này vẫn phát huy tính tự giác, tính hướng nội cao hơn han so với các tôn giáo hữu than, và cả đạo đức vô thần giản đơn khác. Từ phương điện đạo đức làm người, đạo đức của Phật giáo đã lấy con người làm trung tâm và nêu ra con đường giải phóng con người khỏi “bể khổ”, và nó đã bén rễ thuận lợi, một cách hòa bình ở nhiều nước trong khu vực châu Á, hoà đồng với hầu hết các đạo đức và tôn giáo bản địa trong khu vực.
Đạo đức Phật giáo với các chuẩn mực, giá trị đạo đức mang tính phổ quát và nhân bản có giá trị không chỉ cho những người theo đạo Phật mà có rất nhiều điểm phù hợp với đạo đức xã hội nói chung. Từ những quan niệm về đạo đức ở trên, có thể định nghĩa đạo đức Phật giáo như sau: Đạo đức Phật giáo là toàn bộ những quan niệm, giá trị, những quy tắc đạo đức được thể hiện trong các giáo lý Phật giáo (đặc biệt trong các điều rin cam) nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và xã hội theo thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo. Quan niệm về đạo đức của triết học Phương Tây Đối với cuộc sống của con người Phương Tây đạo đức là một vấn đề rất quan trọng và luôn được đề cập đến.