Tổng quan luận án
Đề tài “Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế” do nghiên cứu sinh Phạm Thị Lý thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lưu Thị Kim Hoa và PGS.TS. Nguyễn Chí Hải, chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã ngành 62.02), bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2018.
Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó phát triển thị trường lao động (TTLĐ) là một bộ phận cấu thành trong hệ thống đồng bộ các thị trường. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng—bắt đầu từ việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)—đã tạo ra những chuyển biến lớn về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng thương mại và thúc đẩy tái phân bổ nguồn nhân lực. TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, khoa học và giáo dục lớn, đồng thời là đầu tàu tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước (theo tinh thần Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị). Tuy nhiên, TTLĐ Thành phố bộc lộ nhiều điểm nghẽn: mất cân đối cung – cầu lao động, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động ở cả phân khúc phổ thông và trình độ cao, tỷ lệ thất nghiệp duy trì quanh mức 5%/năm, năng suất lao động (NSLĐ) chưa tương xứng với tiềm năng, mức độ an sinh việc làm hạn chế và sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập trước các cú sốc bên ngoài. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật chuỗi dữ liệu sau khi gia nhập WTO và hình thành AEC, kết hợp phân tích các yếu tố nội tại và yếu tố hội nhập quốc tế tác động đến các kết quả của TTLĐ TP. Hồ Chí Minh.
Mục tiêu chung của luận án là cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về sự vận động, phát triển của TTLĐ; từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chính sách phát triển TTLĐ TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Hình thành khung lý thuyết phân tích về TTLĐ trong hội nhập quốc tế;
- Làm rõ bức tranh chung về TTLĐ TP. Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế;
- Nhận diện những tác động từ các yếu tố bên trong và yếu tố hội nhập quốc tế đến các kết quả chính của TTLĐ ở TP. Hồ Chí Minh;
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp mang hàm ý chính sách nhằm phát triển TTLĐ gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Lược khảo các nghiên cứu cùng chủ đề và hệ thống hóa các lý thuyết về TTLĐ, xác định khoảng trống nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận và khung phân tích;
- Phân tích thực trạng và xác định những yếu tố tác động đến các kết quả của TTLĐ TP. Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế;
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trên TTLĐ TP. Hồ Chí Minh;
- Đưa ra dự báo về cơ hội và thách thức của TTLĐ TP. Hồ Chí Minh trong hội nhập, từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp chính sách phát triển TTLĐ.
Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tiếp cận thị trường lao động dưới góc độ Kinh tế chính trị Mác – Lênin, trong đó đối tượng mua bán thực chất là hàng hóa sức lao động (thị trường sức lao động), sử dụng thuật ngữ “thị trường lao động” đồng nghĩa với “thị trường sức lao động”.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Thời gian: Phân tích thực trạng từ mốc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, nhấn mạnh giai đoạn từ khi gia nhập WTO năm 2007 đến giai đoạn 2014–2015; đề xuất giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
- Nội dung: Tập trung vào mối quan hệ cung – cầu lao động, việc làm, thất nghiệp, tiền lương và an sinh xã hội dưới tác động đồng thời của các nhân tố bên trong nền kinh tế và các nhân tố hội nhập quốc tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo ba nhóm chủ đề:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về TTLĐ tại các nền kinh tế chuyển đổi:
- Nghiên cứu của Yao (2007), Cai, Park, & Zhao (2008), Ming Lu & Hong Gao (2009) phân tích quá trình cải cách TTLĐ Trung Quốc từ năm 1978: chuyển từ việc không thừa nhận sang thừa nhận hàng hóa sức lao động, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) dẫn đến việc sa thải hơn 30 triệu lao động vào cuối thập niên 1990, thiết lập mạng lưới an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội năm 1997, bảo hiểm y tế năm 1998, bảo hiểm thất nghiệp năm 1999) và nới lỏng chế độ hộ khẩu. Ming Lu & Hong Gao (2009) chỉ ra nguy cơ gia tăng bất bình đẳng thu nhập và khuyến nghị chuyển từ mô hình dựa vào chi phí nhân công thấp sang nâng cao NSLĐ. Lam, Liu, & Schipke (2015) dùng phân tích định lượng chứng minh sự chậm trễ cải cách làm gia tăng thất nghiệp kéo dài.
- Nghiên cứu của Allison & Ringold (1996) khảo sát 9 nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu (CEE) giai đoạn 1989–1995, ghi nhận sự suy giảm việc làm khu vực nhà nước mà khu vực tư nhân chưa kịp hấp thụ hết.
- Cazes & Nesporova (2003) phân tích hai mô hình quản lý lao động: mô hình các nước Trung và Đông Nam Âu (CSEE) chú trọng nới lỏng bảo vệ việc làm, chuyển gánh nặng điều tiết sang cơ quan công quyền và bảo hiểm thất nghiệp; ngược lại, mô hình các nước Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) duy trì việc làm trong doanh nghiệp thông qua quy chế sa thải khắt khe, dẫn đến hiện tượng giữ lao động với năng suất thấp và chậm tái cơ cấu.
Nhóm 2: Các nghiên cứu về TTLĐ ở các nước đang phát triển trong hội nhập quốc tế:
- Ghose, Majid, & Ernst (2008) chỉ ra sự bất đối xứng toàn cầu khi 73% dân số sống ở các nước đang phát triển nhưng vốn và kỹ năng tập trung ở các nước phát triển, khiến cơ cấu kinh tế nhị nguyên và việc làm phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn.
- Gary S. Fields (2010) và Asian Development Bank (2006) nhận định TTLĐ ở các nước đang phát triển có tỷ lệ thất nghiệp biểu kiến thấp nhưng mức độ thiếu việc làm và việc làm phi chính thức cao, thu nhập thấp; chính sách cần thực hiện 3 chức năng: phân bổ nguồn lực, phân bổ thu nhập và phân bổ rủi ro.
- Rama (2003) sử dụng dữ liệu 70 quốc gia đang phát triển, kết luận độ mở thương mại có thể tác động tiêu cực đến tiền lương trong ngắn hạn nhưng mang lại tác động tích cực trong dài hạn; FDI tạo hiệu ứng tích cực nhanh chóng và gia tăng mức bù đắp tiền lương cho lao động kỹ năng.
- Campbell (1997) phân tích chuỗi cung ứng Đông Á và ASEAN-4 (Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines); Robertson, Brown, Pierre, & Sanchez (2009) khảo sát tại 5 quốc gia (Campuchia, El Salvador, Honduras, Indonesia, Madagascar) chứng minh tự do hóa thương mại mở rộng việc làm ngành xuất khẩu nhưng làm gia tăng phân hóa tiền lương theo kỹ năng và đẩy một bộ phận lao động vào khu vực phi chính thức; Imbun (2006) đề xuất 8 nhóm chính sách phát triển TTLĐ ở các nước Diễn đàn quần đảo Thái Bình Dương.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về TTLĐ tại Việt Nam:
- Nguyễn Bá Ngọc & Trần Văn Hoan (2002), Đinh Thị Thu Nga (2007), Nguyễn Thị Lan Hương (2008) phân tích các cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc làm và thể chế lao động.
- Jenkins (2006) và Báo cáo của CIEM – Học viện Cạnh tranh Châu Á (2010) nhận định khu vực FDI tại Việt Nam chủ yếu thu hút lao động vào các ngành gia công thâm dụng lao động với mức lương thấp, tính lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp nội địa còn hạn chế.
- ILSSA (2007) và Pham Dinh Long (2013) dùng dữ liệu doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2003–2008 chỉ ra thương mại làm giảm nhẹ từ 2,4% đến 3,5% tiền lương thực tế trong ngành chế tạo.
- Huỳnh Trường Huy (2012) phân tích tác động của nhập cư đến TTLĐ 63 tỉnh thành giai đoạn 2005–2010; Phạm Minh Thái (2014) khảo sát chuyển dịch lao động giai đoạn 2007–2013; Phạm Hồng Mạnh, Nguyễn Văn Ngọc, & Hạ Thị Thiều Dao (2014) tính toán hệ số co giãn của tăng trưởng kinh tế theo việc làm của Việt Nam là 1,71 (nông nghiệp: -0,49; công nghiệp: 0,55; dịch vụ: 0,66).
- Tại TP. Hồ Chí Minh, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành (2001) và Đinh Thị Kim Chi (2006) đã phân tích nhu cầu lao động và chính sách phát triển thị trường sức lao động nhưng các dữ liệu đều thu thập trước thời điểm năm 2007.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết gồm:
- Hệ thống hóa các nhân tố bên trong và yếu tố hội nhập quốc tế tác động đồng thời đến các kết quả chính của TTLĐ (cung – cầu, việc làm, thất nghiệp, tiền lương, an sinh);
- Nghiên cứu toàn diện TTLĐ TP. Hồ Chí Minh ở cả góc độ vĩ mô và vi mô, bao quát khu vực chính thức và phi chính thức trong giai đoạn hội nhập sâu;
- Cập nhật cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian dài (1995–2015, dữ liệu doanh nghiệp 2000–2014) để đưa ra dự báo và giải pháp phát triển đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp nền tảng lý luận của Kinh tế chính trị Mác – Lênin và các lý thuyết kinh tế học hiện đại:
- Lý luận hàng hóa sức lao động của C. Mác: Phân biệt rành mạch giữa “lao động” (hoạt động tiêu dùng sức lao động) và “sức lao động” (năng lực thể lực và trí lực kết tinh trong cơ thể sống). Sức lao động trở thành hàng hóa khi người lao động được tự do về thân thể và không có tư liệu sản xuất. Giá trị hàng hóa sức lao động gồm 3 bộ phận: giá trị tư liệu sinh hoạt cho bản thân người lao động; giá trị tư liệu sinh hoạt nuôi con cái; và chi phí đào tạo. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có đặc tính là nguồn tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó, là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
- Lý luận tiền công của C. Mác: Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động. Phân biệt giữa tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế (phản ánh khối lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mua được, quyết định mức sống người lao động). Do vị thế mặc cả của người lao động thấp hơn người sử dụng lao động, Nhà nước cần can thiệp bằng quy định mức lương tối thiểu.
- Lý thuyết vốn con người và các quy luật thị trường: Đối chiếu khái niệm sức lao động với lý thuyết vốn con người (Schultz, 1961; OECD, 2001; Goldin, 2014). Vận dụng các quy luật giá trị, quy luật cung – cầu và quy luật cạnh tranh. Hàm cung lao động có dạng $L_S = f(w) = cw + d$ ($c > 0$); hàm cầu lao động có dạng $L_D = f(w) = aw + b$ ($a < 0$). Cân bằng thị trường quyết định mức tiền lương cân bằng $w^$ và lượng lao động cân bằng $L^$.
- Khung phân tích của luận án: Xác lập mô hình tương tác giữa Cung lao động và Cầu lao động tạo ra 3 kết quả cốt lõi: Việc làm, Thất nghiệp và Tiền công/Tiền lương. Quá trình này chịu tác động đồng thời của 5 nhân tố bên trong (dân số học, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giáo dục – đào tạo, thể chế chính sách của Nhà nước, hệ thống dịch vụ kết nối cung – cầu) và các nhân tố hội nhập quốc tế (thương mại quốc tế, FDI, di chuyển lao động quốc tế).
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng duy vật và phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
- Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế hỗn hợp đa phương pháp (Hình 3.1).
- Phương pháp định tính: Lịch sử và logic; phân tích, tổng hợp văn bản pháp luật, chính sách thể chế; phương pháp so sánh đối chiếu giữa TP. Hồ Chí Minh với cả nước và các quốc gia ASEAN.
- Phương pháp định lượng:
- Thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian, phân tích chỉ số cơ cấu cung – cầu theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT), thành phần kinh tế và vị thế việc làm.
- Phân tích kinh tế lượng: Ước lượng mô hình hồi quy hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas mở rộng của TP. Hồ Chí Minh (Bảng 4.14) để đo lường mức độ đóng góp của vốn và lao động đối với tăng trưởng kinh tế.
- Phân tích dữ liệu vi mô từ Điều tra Doanh nghiệp hàng năm (giai đoạn 2000–2014, 2007–2014, 2008–2014) để phân tách tác động của loại hình sở hữu và hoạt động xuất nhập khẩu đến quy mô lao động và tiền lương.
Nguồn dữ liệu sử dụng: Niên giám Thống kê TP. Hồ Chí Minh và Tổng cục Thống kê (1995–2015); số liệu Điều tra Lao động – Việc làm của Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh và Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA); Dữ liệu Điều tra Doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (2000–2014); số liệu từ các tổ chức quốc tế như ILO, ADB, Ngân hàng Thế giới và Ban Thư ký ASEAN.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thị trường lao động. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành 3 mảng lớn: kinh nghiệm chuyển đổi TTLĐ tại các nước XHCN cũ (Trung Quốc, CEE, CIS); tác động của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đến việc làm, tiền lương và phân khúc thị trường tại các nước đang phát triển (Mỹ Latinh, Đông Á, ASEAN); và thực trạng TTLĐ Việt Nam sau Đổi mới. Chương 1 chỉ ra những đóng góp lý luận và thực tiễn của các học giả đi trước, đồng thời nêu rõ các khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết, đặc biệt là sự thiếu vắng các nghiên cứu cập nhật, tiếp cận đa chiều ở cấp độ địa phương đầu tàu như TP. Hồ Chí Minh sau khi gia nhập WTO.
Chương 2: Cơ sở lý luận về thị trường lao động trong hội nhập quốc tế
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh cho luận án. Tác giả phân tích phạm trù hàng hóa sức lao động, bản chất bóc lột giá trị thặng dư và bản chất kinh tế của tiền công theo học thuyết Mác; đối chiếu với khái niệm vốn con người hiện đại. Chương này mô hình hóa các quy luật cung – cầu lao động thông qua đồ thị và hàm toán học; làm rõ cơ chế tác động của các nhân tố nội tại (dân số, cơ cấu kinh tế, giáo dục, thể chế, sàn giao dịch việc làm) và các kênh truyền dẫn của hội nhập quốc tế (thương mại hàng hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp, di cư lao động). Khung phân tích đề nghị (Mục 2.3) đóng vai trò là kim chỉ nam xuyên suốt cho việc thu thập dữ liệu và đánh giá thực chứng ở các chương sau.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, triết lý phương pháp luận biện chứng duy vật và sơ đồ thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa phương pháp. Tác giả thuyết minh cụ thể phương pháp thu thập, xử lý và kiểm định dữ liệu thứ cấp vĩ mô (1995–2015) và vi mô (2000–2014). Chương này cũng xác định các biến số, công thức tính toán chỉ số cơ cấu cung – cầu lao động và phương pháp ước lượng hồi quy hàm sản xuất kinh tế lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cho các kết luận thực nghiệm.
Chương 4: Thực trạng thị trường lao động TP.HCM trong quá trình hội nhập quốc tế
Chương 4 cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về TTLĐ TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1995–2015 qua 19 bảng số liệu và 7 hình vẽ minh họa:
- Bối cảnh hội nhập: Kim ngạch xuất nhập khẩu và độ mở thương mại của TP. Hồ Chí Minh tăng liên tục (Hình 4.1, Hình 4.2). Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư và GDP Thành phố tăng trưởng mạnh (Bảng 4.1).
- Cung lao động: Dân số và lực lượng lao động (LLLĐ) tăng nhanh do tỷ lệ nhập cư cao (Bảng 4.2). Tỷ lệ lao động có trình độ CMKT giai đoạn 2011–2015 có chuyển biến nhưng tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ trọng lớn (Bảng 4.3, Bảng 4.4).
- Cầu lao động và chuyển dịch cơ cấu: Cơ cấu lao động dịch chuyển mạnh từ khu vực nhà nước sang khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Bảng 4.5, Bảng 4.6). Cầu lao động theo trình độ CMKT tăng nhanh ở các nhóm nghề đòi hỏi kỹ năng (Bảng 4.7). Cơ cấu việc làm theo vị thế năm 2015 cho thấy tỷ lệ làm công ăn lương đạt mức cao so với bình quân cả nước nhưng tỷ lệ lao động tự làm và lao động gia đình không hưởng lương vẫn tồn tại đáng kể (Bảng 4.8, Bảng 4.9).
- Tiền lương, thu nhập và việc làm: Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công ăn lương giai đoạn 2002–2015 tăng đều qua các năm nhưng có sự chênh lệch rõ rệt theo trình độ học vấn sau khi điều chỉnh lạm phát (Bảng 4.10, Bảng 4.11, Hình 4.3, Hình 4.4). Tỷ lệ thất nghiệp duy trì trung bình khoảng 5%/năm.
- Phân tích tác động của các nhân tố bên trong và hội nhập quốc tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế TP. Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao hơn bình quân cả nước (Bảng 4.12, Hình 4.5). Cơ cấu lao động làm việc phân theo ngành dịch chuyển tích cực sang khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng (Bảng 4.13). Kết quả ước lượng mô hình hồi quy hàm sản xuất (Bảng 4.14) cho thấy tăng trưởng kinh tế của Thành phố chủ yếu dựa vào gia tăng vốn và lao động, NSLĐ ngành dịch vụ và công nghiệp có sự phân hóa (Bảng 4.15). Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh (Bảng 4.16).
- Tác động của hội nhập đến tiền lương và việc làm doanh nghiệp: Số liệu thống kê chứng minh các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu và doanh nghiệp FDI có quy mô lao động lớn hơn và chi trả mức tiền lương trung bình cao hơn so với doanh nghiệp không tham gia xuất nhập khẩu (Bảng 4.17, Bảng 4.18, Bảng 4.19, Hình 4.6, Hình 4.7).
- Đánh giá chung: Thành tựu lớn nhất là mở rộng quy mô việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện bước đầu chất lượng nhân lực. Hạn chế cốt lõi là tình trạng mất cân đối cung – cầu, thiếu hụt lao động kỹ thuật cao, NSLĐ tăng chậm, năng lực chống sốc của doanh nghiệp hạn chế và mạng lưới an sinh xã hội chưa bao phủ toàn diện khu vực phi chính thức.
Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu thực trạng TTLĐ TP. Hồ Chí Minh trích xuất từ luận án:
| Chỉ tiêu / Năm |
2000 |
2005 |
2010 |
2014 / 2015 |
| Dân số trung bình TP.HCM (nghìn người) |
5.223,7 |
6.239,9 |
7.396,4 |
8.224,4 (năm 2015) |
| Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên (nghìn người) |
2.502,4 |
3.125,6 |
3.821,5 |
4.364,0 (năm 2015) |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo CMKT (%) |
24,1 |
28,5 |
32,4 |
35,6 (năm 2015) |
| Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (%) |
6,10 |
5,45 |
4,90 |
4,85 (năm 2015) |
| Thu nhập bình quân/tháng của LĐ làm công ăn lương (nghìn VNĐ) |
1.150 |
1.850 |
3.860 |
5.540 (năm 2015) |
Chương 5: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển thị trường lao động TP.HCM trong hội nhập quốc tế
Chương 5 định vị TTLĐ Việt Nam trong tương quan so sánh với các quốc gia thành viên ASEAN dựa trên các chỉ tiêu dân số, việc làm, chỉ số vốn nhân lực, NSLĐ và mức tiền lương trung bình trong khu vực nhà máy (Bảng 5.1, Bảng 5.2, Bảng 5.3, Bảng 5.4, Hình 5.1, Hình 5.2, Hình 5.3). Trên cơ sở nhận diện cơ hội và thách thức khi gia nhập AEC và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tác giả đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và 3 nhóm giải pháp chính sách:
- Nhóm giải pháp phát triển cung lao động: Đổi mới căn bản hệ thống giáo dục – đào tạo nghề nghiệp theo chuẩn khu vực; gắn kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp; nâng cao thể lực, kỷ luật lao động và kỹ năng ngoại ngữ; quản lý và hỗ trợ lao động nhập cư.
- Nhóm giải pháp phát triển cầu lao động: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghệ cao và dịch vụ giá trị gia tăng lớn; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đổi mới công nghệ để nâng cao NSLĐ; tận dụng tối đa cơ hội từ khu vực FDI và chuỗi giá trị toàn cầu.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và phát triển hệ thống TTLĐ: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về lao động và tiền lương tối thiểu; nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm công; phát triển hệ thống thông tin dự báo cung – cầu lao động; mở rộng mạng lưới bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc khu vực phi chính thức; củng cố cơ chế đối thoại và thương lượng tập thể nhằm hạn chế tranh chấp lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã vận dụng sáng tạo lý luận về hàng hóa sức lao động và tiền công của Kinh tế chính trị Mác – Lênin kết hợp có chọn lọc lý thuyết vốn con người và kinh tế học lao động hiện đại vào điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh.
- Luận án đã xây dựng khung phân tích có tính hệ thống, lượng hóa mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố bên trong nền kinh tế và các nhân tố hội nhập quốc tế tác động đến các kết quả cốt lõi của TTLĐ (cung – cầu, việc làm, thất nghiệp, tiền lương).
Về mặt thực tiễn:
- Luận án đã dựng lên bức tranh thực nghiệm toàn diện, có độ tin cậy cao về thực trạng TTLĐ TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1995–2015, chỉ rõ các chuyển biến tích cực trong phân bổ lao động theo thành phần kinh tế và ngành nghề.
- Luận án phân tích sâu tác động vi mô của FDI và xuất nhập khẩu đến quy mô sử dụng lao động và thu nhập của người lao động trong khu vực doanh nghiệp.
- Luận án chỉ rõ các mâu thuẫn nội tại: cơ cấu cung – cầu mất cân đối, năng suất lao động thấp, chênh lệch tiền lương theo trình độ gia tăng, mạng lưới an sinh xã hội chưa bao phủ kịp tốc độ gia tăng lao động phi chính thức và lao động nhập cư.
- Luận án định vị năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong AEC và đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách đồng bộ, khả thi đối với cung, cầu và thể chế quản lý TTLĐ TP. Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình:
- Phạm vi không gian giới hạn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, chưa mở rộng so sánh định lượng trực tiếp với các đô thị lớn khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu).
- Dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp dừng lại ở năm 2014 và dữ liệu vĩ mô đến năm 2015 do độ trễ công bố của các cơ quan thống kê tại thời điểm thực hiện luận án.
- Chưa khảo sát xã hội học diện rộng đối với lao động phi chính thức và lao động di cư quốc tế tự do.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cập nhật chuỗi dữ liệu doanh nghiệp và lao động trong giai đoạn thực thi đầy đủ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA).
- Mở rộng phân tích kinh tế lượng về tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số đối với sự thay đổi cơ cấu việc làm tại các đô thị đặc biệt.
- Nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình an sinh xã hội tích hợp cho nhóm lao động di cư và lao động phi chính thức trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc thiết kế chính sách việc làm, quy hoạch nguồn nhân lực, điều chỉnh chính sách tiền lương tối thiểu và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế lao động và Quản trị nhân lực. Khung lý thuyết ở Chương 2 và phương pháp thiết kế nghiên cứu hỗn hợp ở Chương 3 có thể làm mô hình mẫu cho các đề tài nghiên cứu về thị trường các yếu tố sản xuất.
- Các tổ chức nghiên cứu và hiệp hội doanh nghiệp: Cung cấp dữ liệu về xu hướng tiền lương, phân bố lao động theo loại hình doanh nghiệp có/không có xuất nhập khẩu để phục vụ công tác dự báo nhân sự và hoạch định chiến lược kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Luận án tiếp cận bản chất của thị trường lao động dưới góc độ nào và xác định đối tượng trao đổi là gì?
Trả lời: Luận án tiếp cận dưới góc độ Kinh tế chính trị Mác – Lênin, khẳng định đối tượng trao đổi trên thị trường là hàng hóa sức lao động (năng lực thể lực và trí lực của con người) chứ không phải bản thân lao động. Do đó, về bản chất khoa học đây là “thị trường sức lao động”, phản ánh quan hệ sản xuất giữa người bán sức lao động tự do và người mua sở hữu tư liệu sản xuất. Thuật ngữ “thị trường lao động” được sử dụng đồng nghĩa để phù hợp với thông lệ quốc tế và quy ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Câu hỏi 2: Kết quả ước lượng mô hình hàm sản xuất của TP. Hồ Chí Minh (Bảng 4.14) cho thấy điều gì về nguồn gốc tăng trưởng kinh tế của Thành phố?
Trả lời: Kết quả ước lượng kinh tế lượng hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas mở rộng tại Bảng 4.14 cho thấy tăng trưởng kinh tế của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn nghiên cứu vẫn chủ yếu dựa vào thâm dụng các yếu tố đầu vào truyền thống là vốn và quy mô lao động, trong khi đóng góp từ năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) và việc nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật còn ở mức khiêm tốn.
Câu hỏi 3: Hoạt động xuất nhập khẩu và hình thức sở hữu tác động như thế nào đến quy mô lao động và tiền lương trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh?
Trả lời: Dữ liệu thống kê doanh nghiệp (Bảng 4.17, 4.18, 4.19) chứng minh các doanh nghiệp có tham gia hoạt động xuất nhập khẩu có quy mô lao động trung bình lớn hơn và chi trả mức tiền lương trung bình hàng năm cao hơn đáng kể so với doanh nghiệp không tham gia xuất nhập khẩu. Đồng thời, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) duy trì mức tiền lương bình quân cao hơn khu vực kinh tế ngoài nhà nước trong nước.
Câu hỏi 4: Vị thế của lực lượng lao động Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh được định vị như thế nào trong tương quan khối ASEAN (Chương 5)?
Trả lời: Dữ liệu so sánh tại Bảng 5.1 đến 5.4 cho thấy Việt Nam có lợi thế về quy mô dân số và lực lượng lao động dồi dào, tốc độ tăng LLLĐ cao; tuy nhiên, chỉ số vốn nhân lực, năng suất lao động (NSLĐ) và mức tiền lương trung bình hàng tháng cho các vị trí công việc nhà máy của Việt Nam vẫn ở nhóm trung bình thấp trong khối ASEAN (thấp hơn nhiều so với Singapore, Malaysia, Thái Lan), cho thấy năng lực cạnh tranh chủ yếu vẫn dựa vào chi phí nhân công giá rẻ.
Câu hỏi 5: Những mâu thuẫn lớn nhất tồn tại trên thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế là gì?
Trả lời: Luận án chỉ rõ mâu thuẫn giữa quy mô nguồn cung lao động dồi dào nhưng chất lượng CMKT thấp; mâu thuẫn giữa nhu cầu tuyển dụng lao động chất lượng cao của doanh nghiệp hội nhập với khả năng cung ứng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp; mâu thuẫn giữa tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn cao (xấp xỉ 5%/năm) song hành với tình trạng khan hiếm cục bộ cả lao động phổ thông lẫn lao động kỹ thuật; và mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với sự gia tăng việc làm phi chính thức thiếu bền vững.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Lý là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về sự vận động của thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế giai đoạn 1995–2015. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận Kinh tế chính trị Mác – Lênin với các phương pháp định lượng thực nghiệm, tác giả đã làm rõ các nhân tố tác động, chỉ ra những thành tựu cùng các điểm nghẽn cơ cấu của thị trường. Hệ thống quan điểm và giải pháp chính sách đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh và cả nước.