CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM cũng là loại hình doanh nghiệp, trên góc độ này có thể nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM như một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Trong hoạt động của ngân hàng, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thế được hiểu ở hai khía cạnh như sau: - Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để gia tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. - Xác xuất hoạt động an toàn của ngân hàng.Rose, về bản chất NHTM cũng là một tập đoàn kinh doanh được tổ chức vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Các ngân hàng cần kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng lợi nhuận với thu nhập cao giúp bảo toàn vốn, cung cấp cơ sở cho sự sống còn và tăng trưởng tương lai của NHTM. Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Với mục tiêu của các nhà sản xuất thì hiệu quả còn được hiểu là hiệu quả kỹ thuật nghĩa là khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho trước, và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực 5 đại hóa lợi nhuận.
Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, theo PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, hiệu quả còn được hiểu là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy,hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Quan niệm về hiệu quả là đa dạng, tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, theo tác giả có thể đưa ra một khái niệm chung về hiệu quả hoạt động của NHTM như sau: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là thu được lợi nhuận tối đa với chi phí tối thiểu. Đây là cũng là mục tiêu mà các ngân hàng cần đạt được trong hoạt động kinh doanh. Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, có thể dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, thể hiện mối quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm và hiệu quả và luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kỹ thuật, phương pháp hồi quy, phân tích để đánh giá hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM.2 Các thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại • Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời (i) Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity); bằng lợi nhuận ròng chia cho vốn tự có cơ bản bình quân (vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không chia).
ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng: 6 (ii) Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA – Return on asset), ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Mối quan hệ giữa ROE và ROA Trong đó: Trong phạm vi luận văn này, tác giả dự kiến sử dụng chỉ tiêu ROA và ROE để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. ROA, ROE thường được sử dụng rộng rãi trong nhiều bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng, điển hình là các bài Ben Naceur (2003), Husni Ali Khrawish (2011), Vincent Okoth Ongore (2013), Kunt và Huizinga (1994)… ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, ROA thấp cho thấy việc sử dụng tài sản chưa hợp lý có thể là chính sách đầu tư, cho vay không linh động, chưa nắm bắt xu thế thị 7 trường hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao.
Nếu ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROA là chỉ tiêu phản ánh tính hiệu quả quản lý, nhà đầu tư có thể dựa trên ROA để biết thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng tài sản. Tài sản của một ngân hàng được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu và hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Theo Khrawish, 2011 ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít, nó cho thấy tính hiệu quả của các nguồn lực của công ty được sử dụng để tạo ra thu nhập.
Thông qua các thành phần cấu tạo ROA, nhà quản trị ngân hàng nhận biết được nguyên nhân làm ROA biến động tăng/giảm nằm ở nhân tố nào, từ đó ngân hàng sẽ có các biện pháp hữu hiệu để điều chỉnh ROA phù hợp với kế hoạch đã định. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Cụ thể, ROE là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời.
Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Theo Khrawish (2011) giải thích rằng ROE đại diện cho tỉ lệ lợi nhuận thu được trên quỹ đầu tư vào các ngân hàng của các cổ đông của mình.
ROE phản ánh tính hiệu quả của việc ngân hàng quản lý vốn của cổ đông. Nhà đầu tư, cổ đông không nên đánh giá ROA, ROE một cách riêng biệt nên có sự kết hợp đánh giá để có nhận định đúng đắn về hiệu quả hoạt động kinh doanh. 8 Nếu ROE quá lớn so với ROA thì có nghĩa vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn, ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn huy động bên ngoài để cho vay, đầu tư, ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng, sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nhóm nhân tố đặc điểm ngân hàng 1.1 Quy mô tổng tài sản Sau khi tổng kết các nghiên cứu như của Xiaoqing Fu và Shelagh Hefferman (2005), Ji-Li Hu, Chiang - Ping Chen và Yi - Yuan Su (2006), Berger và đồng nghiệp (1993), .và yêu cầu của quá trình quản lý, giám sát và quản trị ngân hàng thương mại, các biến có thể được lựa chọn trong mô hình hồi quy Tobit để đánh giá mức độ tác động của nó đến các độ đo hiệu quả.
Tại Việt Nam, các ngân hàng so với các ngân hàng ở các nước trong khu vực và trên thế giới thì được xếp vào loại vừa và nhỏ. Như vậy, chúng ta kỳ vọng rằng hoạt quả hoạt động của ngân hàng sẽ được cải thiện nếu quy mô của ngân hàng tăng. Do đó biến SIZE bằng logarit cơ số tự nhiên của tổng tài sản được lấy làm biến đại diện cho quy mô của một ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì đơn vị càng có khả năng mở rộng quy mô cho vay bởi vì ngân hàng là doanh nghiệp đi vay để cho vay.
Vì vậy, đơn vị phải thường xuyên theo dõi quy mô tổng tài sản. Quy mô tổng tài sản được kỳ vọng có quan hệ đồng biến với hiệu quả hoạt động ngân hàng.2 Cơ cấu tài chính ngân hàng Cấu trúc vốn ảnh hưởng đến ROE, cấu trúc vốn thể hiện cách thức NH tìm kiếm nguồn tài chính qua các phương án kết hợp giữa bán cổ phần, phát hành trái phiếu hoặc đi vay. NH có thể chọn nợ vay hoặc vốn chủ sở hữu. Đối với NH nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Nếu nguồn vốn huy động mà không sử dụng hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Ahmad và Abdullah và Roslan (2012) đã xác nhận rằng nợ ngắn hạnvà tổng nợ có tác động lớn đến ROA trong khi ROE không chịu ảnh hưởng lắm của cấu trúc vốn.