CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị và quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đối tượng, mục tiêu của kế toán quản trị 1. Khái niệm KTQT Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về KTQT: Giáo sư Ronald W. Hilton (Mỹ, 1999), “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị mà NQT dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”.
Tương tự như vậy, Garrison và cộng sự (2018) cho rằng, “ KTQT có liên hệ đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức và có trách nhiệm trong điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức”. Để thực hiện vai trò này, KTQT cũng phải thực hiện quy trình công việc của kế toán là thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin. Theo luật Kế toán Việt Nam ngày 20 tháng 11 năm 2015 tại khoản 10 điều 3 : “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Cụ thể hơn các nội dung của KTQT trong DN, Thông tư số 53/2006-TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn:“… KTQT là công việc của từng DN, nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của DN như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các QĐ ngắn hạn và đầu tư dài hạn;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định… Theo Trần Thị Hồng Mai và Đặng Thị Hòa (2020), “ KTQT là khoa học thu nhận xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp”. Từ các quan điểm trên, kế toán quản trị là một hệ thống kế toán thu thập thông tin kinh tế, tài chính sau đó phân tích dữ liệu thông tin đã thu nhập được để cung cấp 12 những thông tin hữu ích cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều hành và quản lý kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Từ những khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng đều thể hiện một số đặt trưng sau: + Kế toàn quản trị là khoa học trong hệ thống khoa học kinh tế với phương pháp thực hiện, đối tượng nghiên cứu và mục tiêu riêng. + Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán, cung cấp thông tin định lượng và đính tính cho các đối tượng sử dụng trong đơn vị nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát và tư vấn cho việc ra quyết định. Nên kế toán quản trị vẫn có những đặc điểm chung của kế toán, gắn liền với những mối quan hệ tài chính. + Kế toán quản trị hình thành từ nhu cầu thông tin của NQT trong quá trình điều hành doanh nghiệp.
+ Kế toán quản trị ứng dụng trong mọi lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất, thương mại, dịch vụ và trong mọi hình thức tổ chức kinh doanh khác. Đối tượng của kế toán quản trị Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán nói chung nên kế toán quản trị cũng có đối tượng nghiên cứu chung của kế toán là tài sản, nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính tại một đơn vị cụ thể. Để tối đa hóa lợi nhuận không chỉ có sự vận động của tài sản trong một doanh nghiệp bao gồm quá trình sản xuất kinh doanh , tiếp thị, quảng cáo, khách hàng… mà bên cạnh đó cần có các thông tin hữu ích từ bên ngoài doanh nghiệp và cả bên trong nội bộ doanh nghiệp của kế toán quản trị. Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho NQT phục vụ công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất nên không chỉ có thông tin quá khứ, hiện tại mà cả những thông tin mang tính chất dựa báo tương lai.
Chính vì kế toán quản trị phục vụ cho quản trị doanh nghiệp nên đối tượng của kế toán quản trị xác định cụ thể gồm: - Kế toán quản trị phản ánh tài sản của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình. Kế toán quản trị sẽ hướng đến sự tác động của tài sản đến quá trình tạo ra giá trị hơn là những tác động trực tiếp đến tài sản khi hướng đến mục đích là cung cấp thông tin cho NQT. Kế toán quản trị quan tâm lớn nhất là các yếu tố sản xuất như lao động, nhân lực, nguồn hình thành tài sản là nợ phải trả, và vốn chủ sở hữu, hàng tồn kho và tài sản cố định nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất và lợi nhuận cao nhất.
13 - Kế toán quản trị phản ánh các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh của một DN gồm các giai đoạn khác nhau trong đó giai đoạn sản xuất hình thành sản phẩm mới là một hoạt động gặp nhiều khó khăn nhưng lại mang nhiều giá trị cho DN nên được quan tâm nhiều hơn. Mỗi bộ phận sẽ huy động những nguồn lực nhất định và sử dụng theo cách hiệu quả nhất vậy nên kế toán sẽ theo dõi cách thức huy động sử dụng nguồn lực đấy. Mục tiêu của kế toán quản trị Kế toán quản trị trong tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để thực hiện các chức năng quản lý.
Kế toán quản trị trong DN thực hiệnmục tiêu chủ yếu sau: - Kế toán quản trị phục vụ cho việc lập kế hoạch Kế toán quản trị giúp cung cấp các thông tin và tham mưu cho nhà quản lý trong việc lập kế hoạch như xây dựng định mức sản xuất cho một sản phẩm hay dự toán chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh thông qua các phân tích bằng các số liệu đã được đo lường tính toán. Ví dụ với các thông tin về lượng nguyên liệu trực tiếp được sử dụng để tạo ra sản phẩm. Căn cứ vào các thông tin này, NQT sẽ có các phương án huy động và sử dụng nguồn lực trong tương lại để doanh nghiệp chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. - Kế toán quản trị phục vụ cho việc kiểm soát Kế toán quản trị giúp cho NQT kiểm soát và đánh giá mọi khoản mục chi phí trong quá trình sản xuất bên cạnh đó thực hiện ghi chéo lại toàn bộ những khoản mục chi phí để giải trình các nguyên nhân chênh lệch theo định mức hoặc dự toán đã được xây dựng trước đó.
Mọi sự biến động trong quá trình sản xuất kinh doanh được kế toán quản trị phản ánh chi tiết, rõ ràng như các thông tin về chi phí cố định, chi phí biến đổi, chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp…. - Kế toán quản trị phục vụ cho việc ra quyết định Từ việc ghi chép và phân tích các loại chi phí trong quá trình sản xuất thì kế toán quản trị tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả kinh doanh của từng loại chi phí đó. Thông qua phân tích thông tin theo các phương pháp thông tin thích hợp loại bỏ những thông tin không thích hợp trong quá trình thu thập, xử lý, phâm tích. Từ đó tạo cơ sở cho các nhà quản trị tìm ra những phương án kinh 14 doanh hiệu quả đồng thời quản lý kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Nhận thấy kế toán quản trị có mục tiêu cung cấp thông tin hữu ích nhất cho nhà quản trị. Từ đó nhà quản trị đưa ra những quyết định sát với thực tế doanh nghiệp.2 Khái quát về quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp Theo Nguyễn Thị Bích Loan & Phạm Công Đoàn (2020) “Ra quyết định quản trị là việc lựa chọn một hay một số phương án, giải pháp, hành động, tối ưu cho tổ chức nói chung trong quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục tiêu đã định” Còn theo Trần Thị Hồng Mai & Đặng Thị Hòa, (2020) “Quyết định ngắn hạn (hay còn gọi là quyết định kinh doanh) là những quyết định lấy mục tiêu kinh doanh (trước mắt) làm cơ sở lựa chọn phương án”. Quyết định kinh doanh thường là những quyết định mang tính chuyên môn cho các hoạt động tác nghiệp, có thời gian hiệu lực, ảnh hướng và thực thi trong một chu kì kinh doanh, tính từ khi phát sinh các chi phí mà DN phải bỏ ra để thực hiện QĐ cho đến khi thu được các lợi nhuận trong tương lai Trong nền kinh tế đa thành phần, doanh nghiệp cũng có nhiều lợi thế về sản xuất sản phẩm đáp ứng đa dạng cho nhiều đối tượng khách hàng thì bên cạnh đó cũng là những khó khăn khi đứng trước nhiều sự lựa chọn. Khi thay đổi hình thức kinh doanh hay sản phẩm cung ứng ra thì trường thì kế toán quản trị đã cũng cấp các thông tin đã được xử lý và phân tích cho nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh.
Để đưa ra được quyết định hiệu quả nhất đòi hỏi nhà quản trị phải xem xét, cân nhắc lựa chọn phương án phù hợp nhất. Phân loại quyết định: Căn cứ vào thời gian thực hiện kinh doanh thì có thể chia quyết định thành hai loại: - Quyết định kinh doanh ngắn hạn là những quyết định liên quan đến việc sản xuất kinh doanh của DN trong một thời gian ngắn thông thường là một kỳ kế toán hoặc ngắn hơn dưới một năm. Các quyết định ngắn hạn không đòi hỏi vốn đầu tư lớn. - Quyết định kinh doanh dài hạn là những quyết định kinh doanh liên quan đến việc sản xuất kinh doanh trong thời gian dài vượt qua một kỳ kế toán hoặc trên một năm.
Các quyết định kinh doanh dài hạn đòi hỏi lượng vốn đầu tư tương đối lớn. Căn cứ theo chức năng quản trị, quyết định bao gồm: 15 - QĐ liên quan đến hoạch định: là những QĐ về mục tiêu hoạt động của DN, những thay đổi của các mục tiêu và QĐ những nguồn lực cần huy động, những chính sách cần áp dụng để đạt được mục tiêu.