Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN TUY AN TRƯỚC NĂM 2000 1. Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo 1. Quan niệm về nghèo đói và tiêu chí xác định chuẩn nghèo 1. Quan niệm về nghèo đói trên thế giới Quan niệm về xoá đói giảm nghèo từ trước đến nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau của các học giả, các nhà khoa học, dưới những góc độ khác nhau.
Chỉ tính riêng trong từ điển tiếng Việt năm 1994 đã có 18 định nghĩa về nghèo và các từ đồng nghĩa với nghèo. Khái niệm nghèo đói được dùng nhiều nhất là khái niệm đã được đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban kinh tế và xã hội của Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc - Thái Lan. Khái niệm: Nghèo là tình trạng một số bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương [2]. Đây là một trong những khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo.
Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (định lượng) được bỏ ngỏ bởi vì còn phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất của khái niệm này đã chỉ ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản thì họ chính là những người nghèo. Một khái niệm mở như vậy sẽ dễ dàng được các tổ chức và các quốc gia chấp nhận. Theo sự phát triển của 10 xã hội, thì khái niệm này sẽ được mở rộng hơn nhất là khi nhu cầu cơ bản của con người được mở rộng theo thời gian.
Cũng từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực tế về vấn đề nghèo đói, người ta đã đưa ra hai khái niệm khác, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu. Khái niệm này đề cập đến đó là của một cá nhân, hộ gia đình trong mối quan hệ với nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa thiết yếu khác, do đó nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/ hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được. Ở đây sự thiếu hụt này được dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bình quân của một vùng hoặc một khu dân cư, tuỳ vào cách nhìn nhận mà mỗi quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bình quân, nhưng cũng có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân. Để so sánh sự nghèo đói giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm nghèo tuyệt đối.
Cách chọn khái niệm tùy theo mục đích mà mỗi quốc gia hoặc địa phương theo đuổi. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên vẫn còn một số hạn chế và không hoàn toàn đầy đủ. Ở khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước. Còn ở khái niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu.
11 Ngoài hai khái niệm chung về nghèo đói, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu ta thường gặp một số khái niệm khác chỉ những khía cạnh của nghèo đói như: Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Hay nói một cách khác đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo. Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói liên tiếp nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét. Nghèo đói cấp tính: Là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như thiên tai, dịch bệnh…, tại thời điểm đang xét.
Vùng nghèo: Là nơi có tỷ lệ nghèo cao hơn và mức thu nhập thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùng một thời điểm. Quốc gia nghèo: Là một đất nước có bình quân thu nhập rất thấp, nguồn lực (tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở hạ tầng môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó cũng còn nhiều khái niệm khác nhau về nghèo như: Nghèo thời gian, nghèo không gian, nghèo tài nguyên, nghèo lao động, nghèo giới…Tất cả chỉ là xác định rõ hơn đặc điểm, mức độ, nguyên nhân của các đối tượng nghèo và từ đó sẽ có những biện pháp thích hợp cho từng đối tượng nghèo khác nhau. * Những cách nhìn nhận về đói nghèo Qua thời gian thì cách nhìn nhận về đói nghèo ngày càng được mở rộng đa dạng, phong phú và đầy đủ hơn.
Nhưng thực tế thì vẫn chưa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về đói nghèo. Bởi vì bản thân quan niệm này cũng đã thay đổi rất nhiều trong thời gian qua. Đầu những năm 70, đói nghèo chỉ được coi là sự đói nghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi và 12 căn bản nhất để một người bị coi là nghèo đói đó là sự "thiếu hụt" so với mức sống nhất định. Mức thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian.
Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, mức sống của con người ngày càng cao hơn, những nhu cầu cho cuộc sống ngày càng nhiều hơn và quan niệm về nghèo đói cũng đã thay đổi nhiều. Một số yếu tố như nguồn lực người nghèo, mối quan hệ xã hội, khả năng tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã hội và khả năng bảo vệ, chống đỡ các rủi ro đã được đưa vào nội dung của khái niệm đói nghèo. Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói nghèo về năng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập. Theo đó, đói nghèo được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản.
Trong báo cáo về tình hình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2003 đã nhấn mạnh sự cần thiết đưa phương pháp tiếp cận đói nghèo trên cơ sở quyền lợi cơ bản của con người (bao gồm về kinh tế, văn hóa, xã hội chính trị và dân sinh). Quan niệm nghèo đói của Việt Nam Thực tế qua các năm cho thấy về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể đánh giá đói nghèo theo 4 chỉ tiêu chính: thu nhập và cá chỉ số thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục phương tiện nghe nhìn, nhà ở… Tuy nhiên, do nền văn hoá và bản sắc dân tộc của nước ta, nên quan niệm về đói nghèo không chỉ đơn thuần đề cập đến vấn đề thu nhập vật chất mà còn liên quan đến khía cạnh bản sắc văn hoá, đạo đức, nhân văn… Nghiên cứu qua các tiêu chí như thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia đình, hưởng thụ văn hoá,…thì tiêu chí thu nhập về kinh tế là đáng chú ý hơn cả. Ở nước ta chỉ tiêu đánh giá hộ giàu, nghèo chủ yếu dựa trên chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân đầu người/ tháng được đo lường bằng chỉ tiêu giá trị qui đổi hoặc hiện vật qui đổi. Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu 13 nhập thuần tuý.
Thu nhập này được tính bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí đã bỏ ra. Chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu/ tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức nghèo. Ngoài ra, còn căn cứ vào các chỉ tiêu về các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở. Một hộ có thu nhập cao hơn chuẩn nghèo vẫn có thể là hộ nghèo và ngược lại.
Mức độ chi tiêu và cơ cấu chi tiêu không thể thay thế thu nhập, vì chi tiêu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sở thích, phong tục tập quán, điều kiện khí hậu, quan hệ thị trường. Tương tự như vậy, vấn đề mặc, nhà ở, phương tiện đi lại cũng không thể thay thế chỉ tiêu thu nhập, ngược lại chỉ có tác dụng bổ sung cho chỉ tiêu thu nhập. * Quy định chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo qua 07 giai đoạn (1993-1995; 1995-1997; 1997-2000; 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015; 2016-2020). Cụ thể: Giai đoạn 1993-1995 Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới 13kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn. Giai đoạn 1995-1997 Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo: là hộ có thu nhập: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/tháng; Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng; Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng. Giai đoạn 1997-2000 Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997, tính cho 14 mọi vùng).
Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng); Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng); Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng). Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000) Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng với mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng; Vùng thành thị: 150.