Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh và tổng quan về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh 1. Một số khái niệm, quan niệm, thuật ngữ 1. Khái niệm nếp sống Trên quan điểm của Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” thì quan niệm lối sống được hiểu như sau: “Phương thức sản xuất phải xem xét không đơn thuần, theo khía cạnh nó là sự tái tạo sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ.
Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái của họ sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất” [11, tr.269] Trên cơ sở khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin và trên cơ sở khoa học của các nghị quyết Đại hội Đảng cho rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [37, tr. Từ các luận điểm trên, chúng ta có thể rút ra: lối sống là phương thức, là dạng hoạt động của con người. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế- xã hội của một phương thức sản xuất nhất định Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng ta cũng có cơ sở để hiểu khái niệm nếp sống. Theo GS Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp sống trong sản xuất, chiến đấu, trong mối quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người.
Những thói quen ấy gọi là tập quán” [37, tr. 10 “Nếp sống chính là mặt ổn định của lối sống. Nhờ có nếp sống mà xã hội và con người không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã trải qua. Nhờ những nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu trong lối sống của xã hội và con người được giữ lại và phát triển” [18, tr 23].
Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất của cải vật chất, trong sinh hoạt như: ăn, mặc, ở, đi lại; trong đời sống tổ chức xã hội như: phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật… Như vậy, có thể thấy rõ ràng nếp sống là những hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, phong tục được xã hội công nhận. So với lối sống thì nếp sống có tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi. Cùng với sự biến đổi của lối sống nó cũng biến đổi nhưng chậm chạp và khó khăn hơn. Nhưng khi nếp sống đã thay đổi đến một chừng mực nhất định thì lối sống mới biến đổi.
Điều này cho thấy, lối sống và nếp sống không thể tách rời nhau nhưng nó cũng không phải là một. Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những quy tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ.
Trong số đó, có những quy tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên.
Đó là lối sống cộng đồng…tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi. Khái niệm văn minh Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W. Keller cho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh. Những sự thích 11 nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”[ 3, tr 16].
Như vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh với văn hóa. Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy văn minh là từ Hán - Việt trong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa. Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, từ “văn minh” không phải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta đã đọc thấy hai chữ “văn minh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là như con rồng hiện ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh). Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đã được khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai.
Như vậy, với phân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển, là những nhân tố hiện đại, tiến bộ. Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhận định “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sự hỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[ 3, tr 24]. Như vậy, theo các phân tích này, văn minh trước hết và cơ bản là khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung. “Văn minh là xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định về lý tính và công bằng”[ 3, tr 25].
Trong từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa thì “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” và “Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng”[51]. Vậy văn hóa và văn minh giống và khác nhau như thế nào? Trước hết văn hóa và văn minh giống nhau là đều do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưng khác nhau ở một số điểm. Văn hóa là độ dày quá khứ, lịch sử, văn minh chỉ là một lát cắt trong lịch sử. Nói đến 12 văn hóa là nói đến năm tháng, nhiều thế kỉ, thiên niên kỉ, nhiều triều đại, trải qua quá trinh tích lũy, sửa đổi bổ sung chứ không phải chốc lát mà có được.
Nhưng văn minh lại thiên về những phát minh trong tiến trình phát triển của nhân loại, giúp con người sống tốt hơn, sung sướng hơn, tiện lợi hơn. Văn hóa mang tính quốc gia, dân tộc riêng biệt còn văn minh lại mang tính chất toàn cầu. Văn hóa là đặc trưng cho một dân tộc, một quốc gia còn văn minh lại đặc trưng cho từng thời kì. Văn minh là phương tiện bởi văn minh nói đến trình độ phát triển của xã hội loài người, nói đến những tiến bộ của loài người, nhờ những phát minh, sáng chế mà con người có thể sống tốt hơn.
Văn hóa là ứng xử, không chỉ là giữa con người với con người mà giữa con người với tự nhiên. Văn hóa không có tiến bộ hay lạc hậu nhưng văn minh có tiến bộ và ngày càng tiến bộ. Văn minh là toàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá trình tìm tòi và khám phá ra các “quy luật của tự nhiên”. Văn minh còn bao gồm toàn bộ “kỹ thuật sinh sống” và “tổ chức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã hội mang tính hiện đại, giúp cho con người thực hiện được quyền sống, quyền tự do và quyền dân chủ của mỗi cá nhân và cả cộng đồng - xã hội.
Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm văn minh của nhiều tác giả đều có chung ý tưởng là: văn minh hướng đến sự thay đổi tích cực, văn minh là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời. Văn minh thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của con người. Văn minh cơ sở Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống cơ sở là một trong những giá trị tinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình cơ sở hóa. Bởi nếp sống cơ sở là một giá trị tổng hợp, có trình tự về thời gian ra đời gần như muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước đo trình độ của tiến trình cơ sở hóa.
Tuy 13 không tất yếu phải chờ một sự phát triển chín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng như sự phát triển thật cao của một số giá trị tinh thần khác, song nếp sống cơ sở cũng chỉ có thể bắt đầu được xây dựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thượng tầng kiến trúc nhất định trong tiến trình cơ sở hóa. Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc cao, nếp sống cơ sở sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạo thành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển cơ sở bền vững”[41] Từ các quan niệm trên có thể hiểu: Văn minh cơ sở là lối sống hướng đến sự thay đổi tích cực trong sinh hoạt, đời sống ở cơ sở. Văn minh cơ sở là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống cơ sở. Văn minh cơ sở thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân cơ sở [42].