Luận Văn Thạc Sĩ: Giải Pháp Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Trong Việc Tang Ở Thành Phố Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý Văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh

Chương này tập trung vào việc phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến nếp sống văn minhviệc tang. Tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu từ Chủ nghĩa Mác - Lênin và các nghị quyết của Đảng để làm rõ khái niệm lối sốngnếp sống. Theo đó, nếp sống được hiểu là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, phản ánh phương thức hoạt động của con người trong các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Nếp sống văn minh được xem là một phần quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt trong bối cảnh việc tang tại Thành phố Thanh Hóa.

1.1. Khái niệm nếp sống

Tác giả dẫn chứng từ các tác phẩm của Mác và Ăngghen để định nghĩa lối sống như một phương thức hoạt động của con người trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Nếp sống được coi là những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, phản ánh cách thức con người ứng xử và tương tác trong xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang, nơi mà các giá trị văn hóa và truyền thống cần được bảo tồn và phát huy.

1.2. Vai trò của nếp sống văn minh trong xã hội

Nếp sống văn minh đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển văn hóa. Trong bối cảnh việc tang, nếp sống văn minh giúp loại bỏ các hủ tục lạc hậu, tạo nên một môi trường văn hóa lành mạnh và tiến bộ. Điều này đặc biệt cần thiết tại Thành phố Thanh Hóa, nơi mà các giá trị truyền thống và hiện đại cần được hài hòa.

II. Thực trạng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang tại Thành phố Thanh Hóa

Chương này đánh giá thực trạng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang tại Thành phố Thanh Hóa. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các văn bản pháp lý và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như hủ tục lạc hậu và sự phô trương trong các đám tang. Các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng và cải thiện hiệu quả công tác quản lý.

2.1. Thực trạng tổ chức tang lễ

Tác giả phân tích thực trạng tổ chức tang lễ tại Thành phố Thanh Hóa, chỉ ra rằng nhiều gia đình vẫn tổ chức đám tang kéo dài với các hủ tục lạc hậu, gây tốn kém và lãng phí. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nét đẹp văn hóa mà còn gây áp lực kinh tế cho các gia đình. Các biện pháp cần được thực hiện để giảm thiểu các hủ tục này và thúc đẩy nếp sống văn minh.

2.2. Công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Các hoạt động tuyên truyền về nếp sống văn minh trong việc tang đã được triển khai rộng rãi tại Thành phố Thanh Hóa. Tuy nhiên, hiệu quả của các hoạt động này vẫn còn hạn chế do thiếu sự đồng bộ và chưa có sự tham gia tích cực từ cộng đồng. Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen của người dân.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang

Chương này đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang tại Thành phố Thanh Hóa. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường công tác tuyên truyền, và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở. Những giải pháp này hướng đến mục tiêu xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh và tiến bộ, phù hợp với xu hướng phát triển hiện đại.

3.1. Giải pháp về cơ chế quản lý

Tác giả đề xuất việc hoàn thiện các cơ chế quản lý liên quan đến việc tang, bao gồm việc ban hành các văn bản pháp lý cụ thể và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Điều này sẽ giúp đảm bảo việc thực hiện nếp sống văn minh một cách đồng bộ và hiệu quả.

3.2. Giải pháp về tuyên truyền và giáo dục

Các giải pháp tuyên truyền và giáo dục được đề xuất nhằm nâng cao nhận thức của người dân về nếp sống văn minh trong việc tang. Các hoạt động này cần được tổ chức thường xuyên và có sự tham gia tích cực từ cộng đồng để đạt được hiệu quả cao nhất.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh và tổng quan về thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nếp sống văn minh trong việc tang trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 1. Cơ sở lý luận về xây dựng nếp sống văn minh 1. Một số khái niệm, quan niệm, thuật ngữ 1. Khái niệm nếp sống Trên quan điểm của Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” thì quan niệm lối sống được hiểu như sau: “Phương thức sản xuất phải xem xét không đơn thuần, theo khía cạnh nó là sự tái tạo sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ.

Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái của họ sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất” [11, tr.269] Trên cơ sở khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin và trên cơ sở khoa học của các nghị quyết Đại hội Đảng cho rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [37, tr. Từ các luận điểm trên, chúng ta có thể rút ra: lối sống là phương thức, là dạng hoạt động của con người. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế- xã hội của một phương thức sản xuất nhất định Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng ta cũng có cơ sở để hiểu khái niệm nếp sống. Theo GS Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp sống trong sản xuất, chiến đấu, trong mối quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người.

Những thói quen ấy gọi là tập quán” [37, tr. 10 “Nếp sống chính là mặt ổn định của lối sống. Nhờ có nếp sống mà xã hội và con người không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã trải qua. Nhờ những nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu trong lối sống của xã hội và con người được giữ lại và phát triển” [18, tr 23].

Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất của cải vật chất, trong sinh hoạt như: ăn, mặc, ở, đi lại; trong đời sống tổ chức xã hội như: phong tục, lễ nghi, đạo đức, pháp luật… Như vậy, có thể thấy rõ ràng nếp sống là những hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, phong tục được xã hội công nhận. So với lối sống thì nếp sống có tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi. Cùng với sự biến đổi của lối sống nó cũng biến đổi nhưng chậm chạp và khó khăn hơn. Nhưng khi nếp sống đã thay đổi đến một chừng mực nhất định thì lối sống mới biến đổi.

Điều này cho thấy, lối sống và nếp sống không thể tách rời nhau nhưng nó cũng không phải là một. Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những quy tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ.

Trong số đó, có những quy tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên.

Đó là lối sống cộng đồng…tính chất ổn định bền vững hơn nhưng không có nghĩa là không có biến đổi. Khái niệm văn minh Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W. Keller cho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh. Những sự thích 11 nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”[ 3, tr 16].

Như vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh với văn hóa. Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy văn minh là từ Hán - Việt trong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa. Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, từ “văn minh” không phải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta đã đọc thấy hai chữ “văn minh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là như con rồng hiện ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh). Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đã được khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai.

Như vậy, với phân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển, là những nhân tố hiện đại, tiến bộ. Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhận định “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sự hỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[ 3, tr 24]. Như vậy, theo các phân tích này, văn minh trước hết và cơ bản là khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung. “Văn minh là xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định về lý tính và công bằng”[ 3, tr 25].

Trong từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa thì “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” và “Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng”[51]. Vậy văn hóa và văn minh giống và khác nhau như thế nào? Trước hết văn hóa và văn minh giống nhau là đều do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưng khác nhau ở một số điểm. Văn hóa là độ dày quá khứ, lịch sử, văn minh chỉ là một lát cắt trong lịch sử. Nói đến 12 văn hóa là nói đến năm tháng, nhiều thế kỉ, thiên niên kỉ, nhiều triều đại, trải qua quá trinh tích lũy, sửa đổi bổ sung chứ không phải chốc lát mà có được.

Nhưng văn minh lại thiên về những phát minh trong tiến trình phát triển của nhân loại, giúp con người sống tốt hơn, sung sướng hơn, tiện lợi hơn. Văn hóa mang tính quốc gia, dân tộc riêng biệt còn văn minh lại mang tính chất toàn cầu. Văn hóa là đặc trưng cho một dân tộc, một quốc gia còn văn minh lại đặc trưng cho từng thời kì. Văn minh là phương tiện bởi văn minh nói đến trình độ phát triển của xã hội loài người, nói đến những tiến bộ của loài người, nhờ những phát minh, sáng chế mà con người có thể sống tốt hơn.

Văn hóa là ứng xử, không chỉ là giữa con người với con người mà giữa con người với tự nhiên. Văn hóa không có tiến bộ hay lạc hậu nhưng văn minh có tiến bộ và ngày càng tiến bộ. Văn minh là toàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá trình tìm tòi và khám phá ra các “quy luật của tự nhiên”. Văn minh còn bao gồm toàn bộ “kỹ thuật sinh sống” và “tổ chức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã hội mang tính hiện đại, giúp cho con người thực hiện được quyền sống, quyền tự do và quyền dân chủ của mỗi cá nhân và cả cộng đồng - xã hội.

Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm văn minh của nhiều tác giả đều có chung ý tưởng là: văn minh hướng đến sự thay đổi tích cực, văn minh là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời. Văn minh thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của con người. Văn minh cơ sở Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống cơ sở là một trong những giá trị tinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình cơ sở hóa. Bởi nếp sống cơ sở là một giá trị tổng hợp, có trình tự về thời gian ra đời gần như muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước đo trình độ của tiến trình cơ sở hóa.

Tuy 13 không tất yếu phải chờ một sự phát triển chín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng như sự phát triển thật cao của một số giá trị tinh thần khác, song nếp sống cơ sở cũng chỉ có thể bắt đầu được xây dựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thượng tầng kiến trúc nhất định trong tiến trình cơ sở hóa. Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc cao, nếp sống cơ sở sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạo thành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển cơ sở bền vững”[41] Từ các quan niệm trên có thể hiểu: Văn minh cơ sở là lối sống hướng đến sự thay đổi tích cực trong sinh hoạt, đời sống ở cơ sở. Văn minh cơ sở là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống cơ sở. Văn minh cơ sở thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân cơ sở [42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Trong Việc Tang Tại Thành Phố Thanh Hóa là một nghiên cứu chuyên sâu về việc thúc đẩy nếp sống văn minh trong các hoạt động tang lễ tại địa bàn thành phố Thanh Hóa. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao ý thức cộng đồng, giảm thiểu những hủ tục lạc hậu và xây dựng môi trường văn hóa tang lễ lành mạnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến việc cải thiện văn hóa ứng xử trong các nghi lễ truyền thống.

Để mở rộng kiến thức về quản lý và xây dựng văn hóa đô thị, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị từ thực tiễn của quận hoàn kiếm thành phố hà nội, nghiên cứu về quản lý trật tự xây dựng tại Hà Nội. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị tại phường 8 thành phố đà lạt cung cấp góc nhìn chi tiết về quản lý đô thị tại Đà Lạt. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng quản lý quy hoạch hạ tầng giao thông đô thị quảng yên là tài liệu tham khảo hữu ích về quy hoạch hạ tầng giao thông.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết và áp dụng vào thực tiễn.