CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ LƯƠNG VÀ ĐÃI NGỘ 1.1 Khái niệm, vai trò tiền lương.1 Khái niệm tiền lương 1.1 Định nghĩa Tùy theo điều kiện kinh tế phát triển và sự thay đổi trong nhận thức của con người, tiền lương hay bản chất tiền lương cũng đó cú sự biến đổi. Ngày nay chúng ta quan niệm tiền lương không phải đơn thuần là giá cả sức lao động phản ánh mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động theo hình thức bóc lột hay mua bán hàng hóa, mà dưới góc độ quan hệ hợp tác song phương, đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên, bản chất tiền lương trong thế giới hiện đại cũng vẫn đang là một vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ. Quan niệm về tiền lương có sự khác nhau ở các nước khác nhau trên thế giới.
Thật vậy, ở Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương cơ bản; mọi khoản phụ cấp, lợi ích khác người sử dụng lao động sẽ trả trực tiếp bằng tiền hay gián tiếp thông qua hiện vật cho người lao động theo việc làm của họ. Ở Đài Loan, tiền lương bao gồm mọi khoản thù lao, phụ cấp, tiền thưởng, tiền lương theo giờ hay theo sản phẩm v. mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để đánh đổi lấy sức lao động của họ. Tại Nhật Bản, tiền lương, tiền được chia lãi hay bất kì khoản tiền nào khác mà người lao động chi trả cho công nhân là chỉ thù lao lao động mà người công nhân đó được hưởng.
Đối với tổ chức lao động quốc tế (ILO), tiền lương được quan niệm là sự trả công hoặc thu nhập được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc qui định bằng pháp luật, pháp qui quốc gia ghi rõ trong một hợp đồng lao động được viết ra hoặc được thỏa thuận miệng mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động [6]. Tại Việt Nam, trước kia, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân được Nhà Nước phân chia có kế hoạch cho người lao động, phù hợp với chất lượng và số lượng công việc mà mỗi người lao động đã 6 cống hiến. Thời kì này, tiền lương phản ánh sự trả công cho người lao động trên cơ sở lao động nhằm tái sản xuất sức lao động và chịu sự chi phối của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, quan điểm cải cách tiền lương ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1995 nêu rõ: “tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.
Có thể thấy sự tồn tại khách quan của thị trường sức lao động mà ở đó tiền lương đã trở thành một phạm trù giá trị, kinh tế, chính trị xã hội. Tiền lương từ chỗ chỉ là yếu tố của sự phân phối đã trở thành yếu tố sản xuất vừa để tái sản xuất sức lao động vừa để đầu tư cho lao động và biểu hiện mối quan hệ lợi ích giữa cỏc bờn [10]. Tóm lại, tiền lương là phần thu nhập được người sử dụng lao động trả cho người lao động trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện và bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường và quy định hiện hành của pháp luật lao động.2 Các khái niệm khác liên quan đến tiền lương Cùng với tiền lương cũn cú một số khái niệm khác liên quan đến tiền lương như tiền công, tiền lương tối thiểu, tiền lương cơ bản, tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, thù lao lao động v. Tiền công: chỉ là một biểu hiện của tiền lương phản ánh chân thực hơn quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc các hợp đồng dân sự thuê mướn lao động.
Khái niệm này được sử dụng phổ cập trong những thỏa thuận thuê công nhân trên thị trường tự do và còn được gọi là giá công lao động trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng hoặc hoàn thành một khối lượng công việc nhất định trong khoảng thời gian ngắn [11]. Tiền lương tối thiểu có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống tiền lương, là căn cứ để hoạch định chính sách tiền lương, điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế hay quản lý và kiểm tra việc trao đổi, mua bán sức lao động. 7 Sở dĩ như vậy là bởi tiền lương tối thiểu có sự liên hệ chặt chẽ với các yếu tố như: chỉ số giá sinh hoạt, mức sống trung bình của dân cư một nước, loại lao động và điều kiện lao động. Lương tối thiểu còn là một định chế quan trọng bậc nhất của Luật lao động nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người lao động, đảm bảo nhu cầu tối thiểu về sinh học và xã hội học.
Tiền lương danh nghĩa: “là số tiền mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành một khối lượng công việc nhất định” [9]. Tuy nhiên, tiền lương danh nghĩa chưa phản ánh đầy đủ mức trả công thực tế dành cho người lao động. Lợi ích mà người lao động nhận được ngoài việc phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa còn phụ thuộc vào giá cả hàng hóa và dịch vụ mà người lao động sử dụng tiền lương danh nghĩa để mua sắm, nộp các khoản thuế cho nhà nước… Do vậy, khái niệm tiền lương thực tế được sử dụng để “xỏc định số lượng hàng hóa, tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động có được thông qua tiền lương danh nghĩa” [16]. Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện thông qua công thức sau: Tiền lương danh nghĩa Tiền lương thực tế = Chỉ số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ (CPI) Vậy, muốn cho thu nhập của người lao động tăng lên thì tiền lương danh nghĩa phải tăng nhanh hơn chỉ số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ.2 Vai trò của tiền lương 1.1 Thước đo giá trị Từ khái niệm của tiền lương cho thấy tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, do vậy tiền lương chính là thước đo để xác định tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động cũng như là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm.
Nói cách khác, giá trị của lao động một phần được phản ánh thông qua tiền lương; việc làm có giá trị càng cao thì thông thường mức lương càng lớn.2 Tái sản xuất sức lao động Tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng đảm bảo tái sản xuất sức lao động trên cơ sở bù đắp thông qua việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cho người lao động. Tiền lương là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ. Theo họ chức năng cơ bản của tiền lương còn là nhằm duy trì và phát triển sức lao động, có nghĩa là tiền lương cần phải đảm bảo cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.3 Chức năng kích thích Dưới góc độ kinh tế chính trị cũng như kinh tế phát triển gắn liền với hoàn cảnh thực tiễn của đất nước, tiền lương ngày càng trở thành vấn đề tổng hợp, có ý nghĩa kinh tế- chính trị- xã hội trong việc tạo động lực, kích thích sự phát triển. Đối với người lao động, tiền lương thỏa đáng là động lực kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động, tăng lợi ích cho doanh nghiệp.
Có thể nói, tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để định hướng động cơ trong lao động của người lao động; một mức lương thỏa đáng sẽ góp phần không nhỏ trong việc tạo ra sự gắn kết bền chặt về mặt lợi ích giữa người lao động và doanh nghiệp.4 Chức năng tích lũy Tiền lương còn có chức năng tích lũy, có nghĩa là ngoài việc đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày cho người lao động, một phần tiền lương cũng sẽ được người lao động tích lũy dự phòng cho cuộc sống mai sau khi họ không còn khả năng lao động hoặc phục vụ cho những mục đích khác trong cuộc sống của họ trong tương lai.5 Chức năng xã hội Bên cạnh chức năng kích thích làm tăng năng suất lao động, tiền lương còn là yếu tố kích thích sự gắn kết các mối quan hệ lao động. Việc gắn tiền lương với hiệu quả công việc của người lao động sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, tạo động lực cho sự phát triển của con người và xã hội ngày càng tốt đẹp, văn minh.2 Các yếu tố cấu thành hệ thống lương và đãi ngộ “Lương và đãi ngộ chỉ về mọi loại phần thưởng mà một cá nhân nhận được để đổi lấy sức lao động của mỡnh.1 mô tả các thành tố của chương trình lương và đãi ngộ một cách tổng quát. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG LƯƠNG BỔNG VÀ ĐÃI NGỘ TÀI CHÍNH PHI TÀI CHÍNH Trực tiếp Gián tiếp Bản thân CV Môi trường làm việc + Lương công + Bảo hiểm + Cơ hội nhật + Trợ cấp XH thăng tiến, + Chính sách +Lương tháng + Phúc lợi được cấp trên hợp lý + Hoa hồng Về hưu nhận biết. + Tiền thưởng + Điều kiện An sinh XH + Làm giàu làm việc thuận Đền bù công việc lợi.
Trợ cấp GD Dịch vụ +… + Thời gian + Vắng mặt làm việc linh được trả lương hoạt, uyển Nghỉ hè chuyển. Nghỉ lễ Ốm đau. + Chia sẻ công việc + ….1: Các yếu tố của một chương trình lương và đãi ngộ toàn diện Nguồn: Nguyễn Hữu Thân, Quản Trị Nhân Lực, tr373. Đãi ngộ nhân sự là quá trình bù đắp lao động về vật chất lẫn tinh thần, thông qua các công cụ đòn bẩy nhằm duy trì và phát triền nguồn nhân lực.
Đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp thể hiện ở hai hình thức cơ bản là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính.1 Đãi ngộ tài chính 1.1 Tài chính trực tiếp Đãi ngộ tài chính trực tiếp bao gồm các khoản tiền lương, lương công nhật, lương tháng, các chế độ trả công khuyến khích (trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân, trả công theo sản phẩm gián tiếp trả công theo sản phẩm có thưởng, trả công theo giờ tiêu chuẩn, v.), tiền hoa hồng, tiền thưởng, cổ phần.