CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động Có nhiều khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh, một trong số đó thì theo nhà kinh tế học Adam Smith (1776) thì: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Còn theo nhà kinh tế học người Mỹ Paul A. Samuelson (1989) cho rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người”. Còn “Hiệu quả kinh doanh” là việc xác định tỷ số giữa kết quả đạt được vói chi phí bỏ ra (Manfre - Kuhn, 1990) và quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh.
Kết quả kinh doanh được xem là một đại lượng vật chất được tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do đó có kết quả chưa chắc đã có hiệu quả. Vậy nên việc xác định các yếu tố cũng như hệ thống quản lý hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực kinh doanh của một công ty là vô cùng quan trọng.2 Đo lường hiệu quả hoạt động Theo các kết quả một số nghiên cứu trên thế giới, để đo lường hiệu quả cho hoạt động kinh doanh Theo Neely, Gregory & Platts (1995) cho rằng: “Một hệ thống đo lường hiệu quả (Performance measurement system) là tập hợp các thước đo được sử dụng để định lượng cả hiệu quả và hiệu quả của hành động. Một hệ thống đo lường hiệu quả có thể được xem xét ở ba cấp độ khác nhau.
Ở cấp độ một, các biện pháp giúp cá nhân đạt hiệu quả, PMS có thể được phân tích bằng cách đặt câu hỏi như: Hiệu quả của biện pháp được sử dụng? Chúng được dùng cho cái gì? Có mang lại giá trị không? Lợi ích được mang lại là gì? Ở cấp độ hai, hệ thống đo lường hiệu quả vói tư cách là một thực thể, có thể được phân tích bằng cách khám phá các vấn đề như: Các yếu tố về bên trong, bên ngoài, tài chính, phi tài chính có được đảm bảo? Có biện pháp liên quan đến những cải tiến đã được thực hiện? Có các biện pháp liên quan đến cả mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp đã được đưa ra? Có biện pháp nào mâu thuẫn với nhau không? Và ở cấp độ cuối cùng, quan hệ giữa Hệ thống đo lường hiệu quả và môi trường 7 mà doanh nghiệp hoạt động. Ở cấp độ này các hệ thống có thể được phân tích bằng cách đánh giá: các biện pháp củng cố các chiến lược của công ty; liệu giải pháp phù hợp với văn hóa của tổ chức; liệu giải pháp phù hợp vói sự công nhận hiện có và cơ cấu khen thưởng; liệu giải pháp đã tập trung vào sự hài lòng của khách hàng; liệu một số giải pháp đã tập trung vào sự cạnh tranh”. Nhiều tác giả đã đề xuất đo lường hiệu quả các khuôn khổ quy định các khía cạnh nào của các tổ chức nên xem xét việc giám sát (Fitzgerald và nnk, 1991). Những người khác đã chấp nhận lập luận rằng các biện pháp phải được bắt nguồn từ chiến lược và do đó đã tìm cách ghi lại các quy trình được thiết kế để giúp các nhóm quản lý quyết định biện pháp nào phù hợp với tổ chức (Neely et al.
Theo Kaplan & Norton (1996) thì “Việc đo lường lại là tập hợp toàn diện các thước đo hiệu quả được xác định từ bốn quan điểm khác nhau, đó là: tài chính, khách hàng, nội bộ, và nghiên cứu và phát triển, từ đó sẽ cung cấp nền tảng cho chiến lược kinh doanh thành các thuật ngữ cho hoạt động”. Theo Forza & Salvador (2000) thì “Một hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động là một hệ thống hỗ trợ các nhà quản lý trong việc thực hiện quá trình quản lý và cần đáp ứng hai chức năng chính gồm chức năng tạo ra môi trường giao tiếp giữa tất cả các phòng ban của đơn vị (cá nhân, nhóm, quy trình, chức năng, v.) tham gia vào quá trình thiết lập mục tiêu. Chức năng thứ hai là thu thập, xử lý và phân phối thông tin về hiệu suất của con người, hoạt động, quy trình, sản phẩm, đơn vị kinh doanh, v.” Dựa trên các khái niệm từ nghiên cứu trên, ta có thể thấy, hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ được xem xét trên tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, từ các triết lý kinh doanh, tầm nhìn, sứ mệnh, cho đến phân tích các hoạt động bên trong (nội bộ) của doanh nghiệp, phân tích các yếu tố bên ngoài (môi trường) tác động và cuối cùng là phân tích giải pháp thực hiện các chiến lược mà đơn vị đã lựa chọn cho hoạt động kinh doanh.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu cho đề tài Dựa trên nghiên cứu của tác giả I Made Wardana và nnk. (2022) về đề tài: “Xây dựng các chiến lược kinh doanh để cải thiện hiệu quả kinh doanh theo phưong pháp tiếp cận SWOT và 8 QSPM trong thời đại đại dịch: Nghiên cứu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực ẩm thực”, tác giả nhận thấy, ở thời điểm này, khi dịch bệnh Covid 19 đã được kiểm soát thì để nâng cao được hiệu quả cho hoạt động kinh doanh thì cần thiết phải có được những chiến lược đúng đắn và phù hợp.
Theo Porter & Advantage (1985) cho rằng nhu cầu về một chiến lược rõ ràng là ngày càng cấp thiết, bởi vì các công ty không có tầm nhìn rõ ràng sẽ không thể độc đáo và khác biệt, nên việc cung cấp một cái gì đó khác biệt trong cuộc cạnh tranh cho nhiều nhóm khách hàng khác nhau, các công ty sẽ trở thành nạn nhân của các cuộc cạnh tranh khốc liệt néu họ không thể hiện được tính độc đáo. Vì vậy, các công ty nên tìm cách sáng tạo và phát triển vì lợi nhuận chứ không chỉ là cách để hạn chế thua lỗ. Các công ty phải có nhận thức về bên trong và bên ngoài môi trường như một cái gì đó toàn diện, tiến hóa và so sánh để đạt được thành công. Chính vì vậy, để có thể nghiên cứu các hoạt động giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn CPA Á Châu, tác giả hướng đến tiếp cận việc lựa chọn và thực hiện các chiến lược sẽ là cơ sở tất yếu cho bài nghiên cứu này.3 Lý thuyết về chiến lược Theo Kenneth R.Andrew (1971) thì “Chiến lược được định nghĩa là công ty đang hoặc sẽ thực hiện điều gì, đang hoặc sẽ trở thành như thế nào, bằng các mô hình mục tiêu chính (Objective), mục đích (Purposes) hay đích đến (Goals) và những chính sách và kế hoạch (Plan) chính yếu nhằm đạt được mục tiêu đó”.
Quinn (1980) thì “Chiến lược là một dạng thể thức hay kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và một chuỗi hành động được kết dính với nhau vào thành một tổng thể”. Vậy nên, chiến lược có thể được hiểu là Chiến lược của doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là tổng thể các sự lựa chọn có gắn bó chặt chẽ với nhau và các biện pháp cần thiết nhằm thực hiện một tầm nhìn của doanh nghiệp và tạo ra giá trị kinh tế bền vững trong một bối cảnh thị trường nhất định hay là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.4 Quy trình hình thành, xây dụng chiến lược Dựa trên mô hình quản trị chiến lược toàn diện của Fred R. David (2017), trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung vào quá trình xây dựng và lựa chọn chiến lược cho Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn CPA Á Châu, nên quy trình ra chiến lược của công ty có thể được mô tả như sau: Hình 1.1 Quy trình xây dựng chiến lược Nguồn: Tham khảo một phần của Fred R.1 Xác định tầm nhìn và sứ mệnh Tầm nhìn của tổ chức là dự báo về trạng thái mong muốn trở thành trong tương lai 10 của tố chức. Sứ mệnh là giải thích cho mục đích và lý do cho sự ra đời và tồn tại của tổ chức.
Tầm nhìn rõ ràng sẽ tạo nền tảng cho việc phát triển một tuyên bố sứ mệnh. Tuyên bố sứ mệnh là mô tả cụ thể về tổ chức về “Những hy vọng đạt được của tổ chức, như quy mô của tổ chức, phạm vi nỗ lực, số lượng và sự đa dạng, thị trường và khách hàng của tổ chức (Alkhafaji, 2003).2 Phân tích môi trường bên ngoài Mối quan hệ giữa yếu tố chủ yếu của môi trường bên ngoài và doanh nghiệp được thể hiện trong sơ đồ dưới đây: Nhà cung cấp Đối thủ cạnh tranh Nhà phân phối Chủ nợ Yếu tố kinh tế Khách hàng Nhân Yếu tố văn hóa - xã hội viên Cộng đồng Nhà quản lý Cổ đông l= Các cơ hội và thách thức của doanh Yếu tố nhân khẩu học Công đoàn Chính T> nghiệp Yếu tố môi trường tự phủ nhiên Hiệp hội thương mại Yếu tố chính trị và luật Các nhóm lợi ích pháp Sản phẩm Dịch vụ Yếu tố công nghệ Thị trường Yeu tố cạnh tranh Môi trường tự nhiên Hình 1.2 Các yếu tố của môi trường bên ngoài Nguồn: FredR. ỉ Môi trường vĩ mô Theo Nguyễn Minh Tuấn và nnk. (2020), môi trường tổng quát hay còn gọi là môi trường vĩ mô.
Môi trường vĩ mô là những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, tác động một cách gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp và doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Các yếu tố này có phạm vi rất rộng lớn, bao trùm toàn bộ nền kinh tế thế mà mỗi yếu tố môi trường vĩ mô do nhiều tiêu thức tạo thành. Các yếu tố trong môi trường này bao gồm: 11 Yeu tố kinh tế: như chỉ số giá cả, chỉ tiêu GDP, chỉ tiêu GNP, chỉ số thị trường chứng khoán, chính sách tài chính, tiền tệ, mức độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, lãi suất,. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn tới hoạt động và cách ra quyết định của doanh nghiệp.
Yếu tố chính trị và phát luật: bao gồm các thể chế, hệ thống văn bản pháp luật hoàn thiện, các chính sách thuế, luật lao động, quy tắc thương mại quốc tế,. Doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu thiếu đi sự ổn định chính trị. Luật phát có thể tạo nên sự ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến việc ra quyết định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức. Yeu tố văn hóa - xã hội: như văn hóa cốt lõi, văn hóa thứ yếu, tập quán truyền thống, tôn giáo,.