Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phân tích các chỉ số tài chính của NHTM - Chương 2: Phân tích và đánh giá các chỉ số tài chính của NHTMCP Quân đội - Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động 3 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH CỦA NHTM 1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM Việt Nam, cũng nhƣ các quốc gia Châu Á khác, đang ở trong giai đoạn tăng trƣởng chậm. Ngoại trừ ngành Sản xuất và Nông nghiệp, các ngành khác đang bị ảnh hƣởng tiêu cực bởi tốc độ tăng trƣởng chậm và ngành Ngân hàng không phải là một ngoại lệ.
Với tình hình tăng trƣởng tín dụng thấp và tỷ lệ nợ xấu cao, rõ ràng các Ngân hàng Việt Nam, đang phải gồng mình hoạt động trong một môi trƣờng đầy khó khăn và thách thức. Ngân hàng thƣơng mại: khái niệm, đặc điểm và chức năng NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trƣờng ở các nƣớc. Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thƣơng mại: Trên thế giới1: Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ đầu tƣ. Tại Việt Nam: Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:“NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”2. Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, 2004, NXB Tài chính 2 Chính phủ, Nghị định số 49/2000/NĐ – CP, 2000, Khoản 2 Điều 1 4 Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”3 Từ khái niệm trên, có thể rút ra NHTM có đặc điểm là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của NHTM đƣợc phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao. Bên cạnh đó, sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tƣởng của khách hàng và các NHTM thì có sự ảnh hƣởng dây chuyền đối với nhau.
NHTM là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu. Tầm quan trọng của NHTM đƣợc thể hiện qua ba chức năng cơ bản: - Chức năng là thủ quỹ cho xã hội: Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ. Chức năng này đã có ngay trong thời kỳ sơ khai của hoạt động ngân hàng, xuất phát từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị của công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội. Ban đầu, NH đơn giản là ngƣời giữ hộ tài sản và khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản phí.
Về sau ngân hàng đã sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay và thay cho việc khách hàng phải trả thù lao cho ngân hàng, ngân hàng lại trả cho khách hàng lợi tức tiền gửi. Tuy nhiên, với các khoản tiền, vàng bạc, đá quý, chứng từ có giá. khách hàng gửi vào ngân hàng với yêu cầu giữ hộ thì khách hàng vẫn phải trả cho ngân hàng một khoản phí nhất định. Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càng cao, tích lũy của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn, cộng thêm nhu cầu bảo đảm an toàn tài sản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền có đƣợc của các chủ thể kinh tế làm cho các chức năng này càng đƣợc thể hiện rõ.
Nó đem lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. 3 Quốc hội Việt Nam, Luật số 47/2010/QH12: Luật các Tổ chức tín dụng,2010, Khoản 3 Điều 4 5 Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho NHTM để thực hiện chức năng trung gian tín dụng. - Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng là trung gian tín dụng:Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa ngƣời có vốn dƣ thừa và ngƣời có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế, mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay. Sở dĩ ngân hàng làm đƣợc chức năng này vì nó là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết đƣợc tình hình cung cầu về tín dụng.
Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lƣợng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng, cả về khối lƣợng vốn vay và thời gian cho vay. Chức năng trung gian tín dụng của NHTM có tác dụng tập trung vốn cho quá trình sản xuất. Mặt khác, sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra 6 lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Khi ngân hàng chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà chƣa cho vay, ngân hàng chƣa hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
Tóm lại, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi thực hiện tốt chức năng thủ quỹ và chức năng trung gian thanh toán lại góp phần tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của NHTM Về cơ bản, hoạt động của một NHTM bao gồm: - Hoạt động huy động vốn - Hoạt động tín dụng - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Các hoạt động khác: góp vốn, mua cổ phần; tham gia thị trƣờng tiền tệ; kinh doanh ngoại hối; kinh doanh bất động sản; kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; dịch vụ tƣ vấn và các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Hoạt động huy động vốn NHTM đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác; - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc; - Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của TCTD nƣớc ngoài; - Vay vốn ngắn hạn của NHNN; - Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
Hoạt động tín dụng NHTM đƣợc phép cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức cho 7 vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cho vay: NHTM đƣợc phép cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dƣới các hình thức sau: - Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống; - Cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Bảo lãnh: NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với ngƣời nhận bảo lãnh.
Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của ngân hàng không đƣợc vƣợt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM. Chiết khấu:NHTM đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các TCTD khác.