CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMELS 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm NHTM Trên thế giới, lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, được coi là sản phẩm hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Quá trình phát triển của nền kinh tế là điều kiện cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng.
Đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng được biết đến là một trong những tổ chức tài chính lâu đời và lớn mạnh nhất, trong đó, NHTM là tổ chức quan trọng nhất, nắm giữ khoảng 2/3 tài sản có trong hệ thống ngân hàng. Các NHTM có vai trò quan trọng trong tài chính gián tiếp và có khả năng chi phối hoạt động của hệ thống tài chính. Chính vì vậy, NHTM không chỉ là một doanh nghiệp đặc biệt là còn được coi là hệ thần kinh, là trái tim không thể thiếu của của một nền kinh tế lành mạnh và phát triển.
Theo nhà kinh tế học Peter S. Rose (1998), NHTM được coi là nơi cung cấp đầy đủ nhất các sản phẩm tài chính: “NHTM là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.(1) Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2014), “Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ với các dịch vụ chính là huy động tiền gửi, cấp tín dụng và thực hiện thanh toán”.(2) Tại Việt Nam, Khoản 3, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo đó, Khoản 12, Điều 4 cũng quy định: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp 6 vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.(3) Như vậy, NHTM có thể được khái niệm qua các chức năng, hoạt động chủ yếu hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, như là tổ chức kinh doanh tiền tệ, là trung gian tài chính, là tổ chức tín dụng. nhưng hiểu chung nhất: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Chức năng của NHTM Chức năng thủ quỹ cho xã hội Đây là chức năng sơ khai từ thưở mới hình thành NHTM, xuất phát từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản của công chúng. Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của các chủ thể trong xã hội, bảo quản tiền và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của họ. Nhờ đó, các tài sản bằng tiền của khách hàng được quản lý một cách an toàn và hiệu quả, đồng thời ngân hàng cũng tạo lập được nguồn vốn để cho vay và đầu tư, mang lại lợi ích cho chính ngân hàng và nền kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của NHTM, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Chức năng trung gian tín dụng của NHTM thể hiện ở vai trò là cầu nối giữa chủ thể dư thừa vốn và chủ thể có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò làm người cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền (được hưởng lãi từ khoản tiền gửi tại NHTM), người đi vay (tiếp cận được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư nhằm thực hiện hoá các cơ hội đầu tư sinh lời) và bản thân ngân hàng (lợi nhuận chính là phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động), đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. 7 Chức năng trung gian thanh toán Là một trung gian thanh toán, NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Chức năng thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế. Trước hết, đó là giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền. Ngoài ra, việc thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp các chủ thể kinh tế tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo an toàn trong thanh toán, qua đó đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền – hàng. Chức năng tạo tiền Đây là kết quả của việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán.
Khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra. NHTM có khả năng tạo tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Từ khoản tiền huy động ban đầu, thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM sử dụng số tiền đó để cho vay bằng chuyển khoản. Sau đó những khoản tiền này sẽ quay trở lại NHTM một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn.
Quá trình này tiếp diễn trong hệ thống ngân hàng tạo nên lượng tiền gửi gấp nhiều lần số vốn huy động ban đầu. Như vậy, với chức năng tạo tiền, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán của xã hội. Các hoạt động chính của NHTM Hoạt động tạo lập vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản nhất, phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn của NHTM được tạo lập từ: ➢ Vốn tự có Đây là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, đồng thời là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng.
Vốn tự có không được đề cập cụ thể tại một khoản mục riêng biệt trên BCĐKT mà tại Việt Nam, theo luật TCTD, được xác định gồm 8 phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và các tài sản nợ khác. Trong đó, vốn điều lệ là vốn do các chủ sở hữu đóng góp, được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng và được quy định tối thiểu bằng vốn pháp định – mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng theo luật định. Trong nền kinh tế thị trường, vốn điều lệ được hình thành theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào loại hình ngân hàng. Đối với ngân hàng tư nhân, đây là vốn do một cá nhân đầu tư và thuộc sở hữu riêng của cá nhân đó.
Đối với ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ do NHNN cấp. Vốn điều lệ của các ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu, còn đối với ngân hàng liên doanh là sự góp vốn của các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Nguồn vốn này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng đóng vai trò rất quan trọng. Nhờ tính chất thường xuyên và ổn định, NHTM có thể chủ động sử dụng vốn tự có vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất và tài sản cố định để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng.
Với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo tạo lòng tin đối với khách hàng, công chúng và cổ đông, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng thua lỗ. Mặt khác, vốn tự có còn là cơ sở quyết định quy mô tài sản có, sự tăng trưởng và năng lực phát triển của NHTM. Trong quá trình hoạt động, NHTM có thể huy động khi cần tăng vốn nhưng phải được sự cho phép của NHTW. ➢ Vốn tiền gửi Thông qua các loại hình tiền gửi, NHTM huy động những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình.
Đây là nguồn vốn huy động chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Do đó, quy mô và chất lượng vốn tiền gửi sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của NHTM. Quy mô và chất lượng vốn tiền gửi được quyết định bởi các yếu tố như vốn tự có, uy tín, lãi suất, sản phẩm tiền gửi và sức cạnh tranh của ngân hàng. Nếu nguồn vốn tiền gửi được huy động với chi phí càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao, giúp tăng sự cạnh tranh và chủ động trong hoạt động cho vay.
Các loại hình tiền gửi tại NHTM bao gồm: 9 - Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi, bao gồm hai loại là tiền gửi thanh toán và tiền gửi phi giao dịch nhằm mục đích an toàn tài sản. - Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền, không được sử dụng để tiến hành thanh toán, thường có thời hạn dài và lãi suất cao. Đây là nguồn vốn huy động tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh.
Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. - Tiền gửi tiết kiệm: là một phần thu nhập của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng lãi.