phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản trong dạy học Sinh học 11 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm xv LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về sư phạm tích hợp 1. Khái niệm về tích hợp Theo Từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tƣợng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”. Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2009) thì “tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ”.
Theo Phạm Văn Lập: “Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học đƣợc ở môn học này, phần này của môn học đƣợc sử dụng nhƣ những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học”. Tác giả Dƣơng Tiến Sỹ và Nguyễn Phúc Chỉnh đều cho rằng “tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong các môn học đó”[4],[21],[26]. Nhƣ vậy dƣới góc độ giáo dục học, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất. Khái niệm về dạy học tích hợp Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách đƣợc xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập nhƣ cũ và giảng dạy nhƣ cũ theo chƣơng trình và sách giáo khoa gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau.
Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đƣa vào nhà trƣờng nhƣ: Giáo dục sức xvi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khỏe, giới tính, dân số, pháp luật, phòng chống các tệ nạn xã hội, an toàn giao thông, bảo vệ môi trƣờng… nhƣng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học cũng nhƣ lƣợng thời gian để dạy hết mọi thứ cho học sinh. Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện đƣợc để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt cho học sinh mà không quá tải. Trƣớc những đòi hỏi đó, sƣ phạm tích hợp ra đời nhằm đáp ứng lại những yêu cầu của giáo dục hiện đại, không chỉ tích hợp về phƣơng pháp mà còn cả về nội dung dạy học. Quan điểm tích hợp đã đƣợc nghiên cứu và vận dụng trong dạy học ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Theo UNESCO, “Dạy học tích hợp các khoa học đƣợc định nghĩa là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của các tƣ tƣởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Còn theo Hội nghị tại Maryland (tháng 04/1973) thì khái niệm dạy học các khoa học còn bao gồm cả việc dạy học tích hợp các khoa học và công nghệ học. Định nghĩa này nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết khái niệm và nguyên lí khoa học với ứng dụng thực tiễn. Theo Xavier Roegiers, “Sƣ phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tƣơng lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động.
Nhƣ vậy, sƣ phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa”. Tuy có những định nghĩa khác nhau nhƣng các cách định nghĩa về dạy học tích hợp này lại thống nhất biện chứng với nhau ở tƣ tƣởng chính là việc thực hiện mục tiêu kép trong quá trình dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thƣờng của một bài học, hai là mục tiêu đƣợc tích hợp trong nội dung bài học đó). Nhƣ vậy, dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà trong cùng một thời lƣợng học tập, học sinh thu nhận đƣợc đồng thời nhiều đơn vị kiến thức. xvii LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quan điểm về sự tích hợp các môn học Tuỳ theo quan điểm mà có những phƣơng thức khác nhau trong việc thực hiện tích hợp các môn học. Theo d’Hainaut (1977), có thể chấp nhận bốn quan điểm tích hợp khác nhau đối với các môn học: Quan điểm “đơn môn”: có thể xây dựng chƣơng trình học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt, trong đó ƣu tiên các nội dung khái quát cốt lõi của môn học. Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ. Quan điểm “đa môn”: một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với nội dung kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau.
Những môn học tiếp tục đƣợc tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung. Nhƣ vậy, các môn học không thực sự đƣợc tích hợp. Quan điểm “liên môn”: nội dung học tập đƣợc thiết kế thành chuỗi các vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của các môn học khác nhau. Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trƣớc.
Khi đó, các quá trình học tập sẽ không còn rời rạc mà chúng liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần phải đƣợc giải quyết. Quan điểm “xuyên môn”: nội dung học tập hƣớng vào phát triển những kĩ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau. Có thể lĩnh hội những kĩ năng này trong từng môn học hoặc qua những hoạt động chung của nhiều môn học. Trong xu thế phát triển của khoa học và những nhu cầu của xã hội ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải hƣớng tới quan điểm liên môn và xuyên môn.
Các phương thức tích hợp trong dạy học Theo Xanvier Roegiers có 4 phƣơng thức tích hợp. Thứ nhất, những ứng dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở xviii LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cuối năm học hay cuối cấp học. Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn đƣợc dạy riêng rẽ nhƣng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chƣơng về những vấn đề chung của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh đƣợc đánh giá bằng bài thi tổng hợp kiến thức. Thứ hai, những ứng dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở những thời điểm cụ thể đều đặn trong năm học.
Ví dụ: Các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn đƣợc dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, chƣơng trình có bố trí xen một số chƣơng trình tích hợp liên môn nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau. Thứ ba, phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp. Cách này đƣợc áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung nhau, thƣờng dựa vào một môn học công cụ nhƣ Tiếng việt, Toán.
Trong trƣờng hợp này, môn học tích hợp đƣợc một giáo viên giảng dạy. Thứ tƣ, phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp. Vai trò của tích hợp trong dạy học Dạy học từng môn riêng rẽ giúp học sinh hình thành kiến thức khoa học một cách hệ thống, dạy học tích hợp giúp học sinh liên hệ kiến thức trong nhà trƣờng và thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp giúp học sinh trở thành ngƣời lao động tích cực, ngƣời công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống.
Khuynh hƣớng dạy học tích hợp cho phép rút ngắn thời gian dạy học, đồng thời tăng cƣờng đƣợc khối lƣợng và chất lƣợng thông tin của chƣơng trình và nội dung sách giáo khoa. xix LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc giảng dạy tích hợp rèn cho học sinh ý thức và kỹ năng vận dung kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập cũng nhƣ trong thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp giúp học sinh thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý để giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại. Dạy học tích hợp giúp học sinh phát triển phối hợp nhiều kỹ năng, trong đó có những kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó hình thành đƣợc.Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản trong dạy học Sinh học 1.
Khái niệm về sức khỏe sinh sản Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO) định nghĩa :“SKSS là một trạng thái khoẻ mạnh, hài hoà về thể chất, tinh thần, xã hội trong tất cả mọi khía cạnh có liên quan đến cơ quan sinh sản, các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thƣơng cơ quan sinh sản. Hội nghị về dân số và phát triển toàn thế giới 2004 định nghĩa : “SKSS là tình trạng thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó. Nhƣ vậy SKSS bao hàm ý nghĩa là mọi ngƣời đều có thể có một cuộc sống tình dục đƣợc thỏa mãn, có trách nhiệm và an toàn đồng thời họ phải có khả năng sinh sản và sự tự do lựa chọn việc có sinh con hay không, thời điểm sinh con, số con.