MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trầm cảm có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào từ thời thơ ấu đến tuổi già và gây ra tổn hại to lớn cho xã hội, vì rối loạn này có thể gây ra nỗi đau khổ nghiêm trọng, phá hoại cuộc sống bình thường và nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong do tự sát hoặc suy kiệt trong những trường hợp nặng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hiện tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm chủ yếu khoảng 5% dân số, đây là nguyên nhân gây suy giảm các chức năng nghề nghiệp xã hội ở bệnh nhân và đứng hàng thứ 2 chỉ sau các bệnh lý tim mạch vào năm 2020. Trầm cảm có thể gặp ở trẻ em, vị thành niên, người trưởng thành cũng như người cao tuổi.
Tỷ lệ mắc trầm cảm ở nữ cao hơn nam giới và tỷ lệ này khoảng 2:1[18]. Các quốc gia có tỷ lệ trầm cảm cao nhất là ở n độ (36%), Pháp, Hà Lan có trên 30%. Hoa Kỳ 6,6% dân số có nguy cơ mắc bệnh này trong 12 tháng qua [43]. Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia năm 1999, tỷ lệ hiện mắc trầm cảm trong dân số là 8,35% [16].
Trầm cảm có biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng như khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, mau mệt mỏi dẫn đến giảm hoạt động [6], [15], [49]. Bên cạnh đó, các triệu chứng về nhận thức cũng khá phổ biến trong bệnh cảnh lâm sàng của trầm cảm. Các triệu chứng này bao gồm ý tưởng tự ti, không xứng đáng, cảm thấy vô vọng , không được giúp đỡ , cho rằng mình là người thất bại, tự đánh giá thấp về bản thân, ý tưởng tự buộc tội, tự khiển trách [6], [15], [17]. Những nhận thức sai lệch này làm cho bệnh nhân thường có ý tưởng và hành vi tự sát.
Vì vậy, thay đổi nhận thức ở bệnh nhân trầm cảm là một vấn đề quan trọng trong điều trị và phòng ngừa tái phát các giai đoạn trầm cảm Liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý (Rational emotive behavior therapy - REBT) dựa trên khái niệm cảm xúc và hành vi xuất phát từ quá trình nhận thức và con người có thể thay đổi quá trình nhận thức để đạt đến các cảm xúc và 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành vi theo cách khác. Giữa những năm 1950, tiến sĩ Albert Ellis, nhà tâm lý lâm sàng Mỹ được đào tạo về phân tâm học đã nhận thấy, bệnh nhân có xu hướng tốt hơn khi học thay đổi cách suy nghĩ của họ về bản thân, về các vấn đề của họ và về thế giới. Ông cho rằng liệu pháp sẽ tiến triển nhanh hơn nếu tập trung trực tiếp vào niềm tin của bệnh nhân và từ đó ông khai sinh ra Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý. Nó có vị trí trong lịch sử các liệu pháp nhận thức hành vi và đến nay vẫn được ủng hộ Việt Nam cho đến hiện tại chỉ mới có công trình nghiên cứu của BS.II Lâm Tứ Trung BVTT Đà Nẵng tiến hành đánh giá tác động ban đầu của Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý trên bệnh nhận nghiện ma túy tại trung Tâm 05-06 Đà Nẵng, bên cạnh đó tác giả cùng đồng nghiệp cũng đã thử triển khai liệu pháp này đối với bệnh nhân lo âu, trầm cảm… do liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý là một liệu pháp tương đối dễ thực hiện và không mất nhiều thời gian, ít tốn kém.
Tuy nhiên chưa có một bằng chứng khoa học nào để đánh giá hiệu quả đối với bệnh nhân. Do đó tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiệu quả của liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý( REBT) trên bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại Bệnh viện Tâm Thần Đà Nẵng” 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý đối với bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại bệnh viện tâm thần Đà Nẵng 3. Câu hỏi nghiên cứu - Liệu pháp Liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý có hiệu quả trong can thiệp đối với bệnh nhân trầm cảm hay không? - Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý trên bệnh nhân trầm cảm 4.
Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu 4.Khách thể nghiên cứu Hiệu quả liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý trên bệnh nhân trầm cảm. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại bệnh viện tâm thần Đà Nẵng (Theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD-10) 5. Giả thuyết nghiên cứu.
- Liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý có hiệu quả trong can thiệp bệnh nhân trầm cảm Hiệu quả của liệu pháp không bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố liên quan 6. Nhiệm vụ nghiên cứu 6. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận - Xây dựng cơ sở lý luận về trẩm cảm, tổng quan nghiên cứu về trầm cảm dựa trên liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý - Thao tác các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài: Biểu hiện của trầm cảm, liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý là gì, quy trình thực hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp 6. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn - Nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý đối với bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại Bệnh Viện Tâm Thần Đà Nẵng - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý đối với bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại Bệnh Viện Tâm Thần Đà Nẵng 7.
Giới hạn nghiên cứu 7. Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý trên bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại Bệnh Viện Tâm Thần Đà Nẵng từ tháng 12/2017 đến tháng 10/2018. Giới hạn về khách thể khảo sát: Bệnh nhân trầm cảm đến điều trị tại Bệnh Viện Tâm Thần Đà Nẵng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Bệnh Viện Tâm Thần Đà Nẵng, Quận Liên Chiểu, Thành Phố Đà Nẵng 8.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu Nội dung Thời gian Thời gian Kết quả nghiên cứu dự Stt nghiên cứu Bắt đầu Kết thúc định đạt đƣợc Hoàn thành cơ sở lý luận 1 I 01/12/2011 01/02/2018 về trầm cảm và liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý Thu thập số liệu để đánh 2 II 02/2018 08/2018 giá hiệu quả Phân tích xử lý số liệu 3 III 08/2018 10/2018 Viết báo cáo - Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tâm Thần thành phố Đà Nẵng. Phƣơng pháp phân tích số liệu Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 23.0 để xử lý kết quả nghiên cứu, nhằm đánh giá hiệu quả liệu pháp cảm xúc hành vi hợp lý đối với bệnh nhân trầm cảm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU Khám xác định trầm cảm dựa vào ICD 10, đưa bệnh nhân trầm cảm chia thành 2 nhóm ngẫu nhiên: nhóm can thiệp và nhóm chứng Nhóm can thiệp: Nhóm chứng: Amitriptyline Amitriptyline và Liệu pháp T0 REBT: Đánh giá T0: Đánh giá T0: PHQ9 PHQ9 BDI BDI Nhóm can thiệp: Nhóm chứng: Amitriptyline Amitriptyline và Liệu pháp Đánh giá T1: 4 tuần T1 REBT: PHQ9 Đánh giá T1: BDI PHQ9 BDI Nhóm can thiệp: Nhóm chứng: Amitriptyline Amitriptyline và Liệu pháp Đánh giá T2: 9 tuần T2 REBT: PHQ9 Đánh giá T2: BDI PHQ9 BDI Đánh giá sự hài lòng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỆNH TRẦM CẢM VÀ LIỆU PHÁP CẢM XÚC HÀNH VI HỢP LÝ CHO BỆNH NHÂN TRẦM CẢM 1. Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm 1. Khái niệm chung của trầm cảm Rất nhiều người dùng từ “trầm cảm” để mô tả cảm giác buồn hoặc mất mát.
Những cảm giác này thường qua đi sau vài giờ hoặc vài ngày. Trong giai đoạn đó, mọi người vẫn có thể giải quyết mọi việc bình thường. Y học định nghĩa trầm cảm khác với cảm giác buồn nhất thời. Trầm cảm là một chứng rối loạn, trong đó cảm giác buồn diễn ra rất mạnh và kéo dài, có thể ảnh hưởng đến công việc, gia đình và cuộc sống xã hội của con người [21].Trầm cảm và hưng cảm là hai hội chứng của rối loạn khí sắc.
Rối loạn khí sắc là trạng thái bệnh lý biểu hiện bằng rối loạn trầm cảm đơn thuần hoặc xen kẽ với những rối loạn hưng cảm hoặc rối loạn khí sắc chu kỳ ở cường độ cao, trong thời gian dài hoặc có những rối loạn hành vi, tác phong rõ rệt, những hoạt động này làm người bệnh mất khả năng hoạt động, thích ứng với xã hội và xung quanh. Một hội chứng trầm cảm điển hình bao gồm 3 phần chủ yếu: cảm xúc, tư duy và vận động bị ức chế toàn bộ[11]. Giai đoạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất 2 tuần lễ hoặc hơn[18].bệnh nhân có 2 triệu chứng cơ bản: Khí sắc giảm, trạng thái ức chế tâm thần vận động và 3 nhóm triệu chứng kết hợp: lo âu, biến đổi tính cách và các triệu chứng cơ thể [10]. Bệnh nhân thường có các triệu chứng cơ thể như đau nhức ở đầu, lưng, cổ hoặc ngực, mệt mỏi, rối loạn ăn uống và rối loạn giấc ngủ, điều này làm người ta nghĩ họ bị bệnh cơ thể [35].
Lịch sử bệnh trầm cảm Trầm cảm nặng điển hình đã được người xưa mô tả, nhưng với sự phát triển không ngừng của nền y học sự hiểu biết về trầm cảm luôn được bổ sung 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và hoàn thiện. Trầm cảm theo Hyppocrate(460-377 trước công nguyên)) dùng trong học thuyết thể dịch của ông mô tả mức độ trầm cảm nghiêm trọng điển hình và dùng để mô tả một số bệnh lý tâm thần có rối loạn khí sắc nặng. Đến thế kỷ thứ XVIII, Pinel mô tả trầm uất là một trong 4 loại loạn thần. Sau đó Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần bộ phận trầm cảm mà ông gọi là lypemanie (cơn buồn rầu) và đi sâu nghiên cứu các yếu tố bệnh căn, bác bỏ thuyết thể dịch.
1896,Kraepelin xếp 2 loại trạng thái trầm cảm và hưng cảm xuất hiện trên một người bệnh trong một bệnh cảnh chung là rối loạn cảm xúc. Ông đặt rối loạn này là loạn thần hung cảm mà ngày nay gọi là rối loạn cảm xúc lưỡng cực Thế kỷ XIX người ta đã mô tả lâm sàng rõ ràng hơn trong các bệnh: Loạn thần có hai thể (Baillarger, 1854), loạn thần tuần hoàn (Falret J.P, 1854) và loạn thần hưng trầm cảm (Kraepelin, 1899).