phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện Phòng không – Không quân 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Phòng không – Không quân trong giai đoạn hiện nay Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan 1. Sự ra đời của khoa học quản lý Sử gia Daniel A.Wren nhận xét: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”. Theo ông, quản lý ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của con người; nhưng ông cũng ghi nhận rằng thời gian gần đây người ta mới chú ý đến “Chất khoa học” của quá trình quản lý.
Vào khoảng những năm 500 - 200 trước công nguyên tại Hy Lạp: Quy định đạo đức công vụ, trường đại học quản lý của Socrate; khởi đầu các phương pháp khoa học để giải quyết vấn đề. Năm 300 sau công nguyên, nhà thờ Thiên chúa giáo đã nêu: Cấu trúc thứ bậc phi tập trung với chính sách và sự kiểm soát chiến lược có tính tập trung. Nhà văn Niccolo Machia Velli (Italia, 1469-1527) trong “Những bài diễn văn” đã nêu lên những nguyên tắc: (1). Mọi tổ chức sẽ ổn định, bền vững nếu các thành viên có quyền biểu thị sự khác biệt của mình và giải quyết những xung đột giữa họ bên trong tổ chức.
Khi một cá nhân bắt đầu xây dựng một tổ chức: “Nó còn tồn tại và kéo dài chừng nào nó được sự quan tâm của nhiều người và họ muốn duy trì nó tồn tại”. Một người quản lý yếu kém có thể noi theo một người quản lý giỏi hơn, nhưng không một người quản lý yếu kém nào lại có thể duy trì được uy tín của mình. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một người quản lý tìm kiếm sự thay đổi một tổ chức đã được hình thành sẽ phải giữ lại chí ít cái bóng của thói quen cũ.
Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert Owen (1771-1858), một trong những người tiên phong của thời đại, đã sớm nhận ra tầm quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực. Các quan điểm truyền thống ra đời đã hơn một thế kỷ nay, nhưng ý nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn nóng hổi; bởi lẽ các thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã phát triển và nó vẫn tồn tại. Vì vậy, phải nghiên cứu, vận dụng các thuyết và quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay. Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) được xuất phát từ cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principles of Scientific Management) của Frederick Wuislow Taylor (1856-1915) xuất bản năm 1911.
Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, theo đó Ông đã đề cập các nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học đó là: (1). Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hình thành; (2). Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành; (3). Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn; (4).
Phải chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bộ phận phải lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa học, còn người công nhân có nhiệm vụ thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội. Một học thuyết trong quan lý đã xuất hiện, đó là quan điểm về hành vi (quan điểm hệ con người). Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người, khía cạnh nhân bản trong một tổ chức.
Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý, thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thức hiện cái họ phải làm, tức là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền, giao tiếp với những người dưới quyền ra sao. Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục Hệ thống giáo dục, đặc biệt là trong các nhà trường phổ thông ở các nước phát triển đã được những nhà nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm. Nhà sư phạm Cô-men-xki (1592-1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường, đã tạo cơ sở ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục là “Tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn xã hội. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường ở Liên Xô đã được chú trọng vào những năm 50 của thế kỷ XX.
Năm 1956, lần đầu tiên đã xuất hiện cuốn “Quản lý trường học” của A.Pôpốp, cuốn sách này là một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác quản lý giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý trường học. Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương Tây về quản lý giáo dục; điển hình là các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization Behavior in Education) của Robert J. Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory, Research and Practice) của Wayne. Miskel (1996) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hơn một thế kỷ qua, giáo dục toàn cầu đã có những bước tiến vượt bậc.
Giáo dục cơ bản đã được quan niệm như một kết cấu hạ tầng xã hội, như một động lực phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chưa bao giờ giáo dục được quan tâm như hiện nay. Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thai Lan (tháng 3 năm 1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “Chương trình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi người. Như vậy, bằng lý thuyết cũng như trên thực tế đã thể hiện hành động “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu; đã biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục”.
Khái quát những nghiên cứu về quản lý giáo dục ở Việt Nam Ở nước ta, Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm đến thực tiễn quản lý giáo dục với mức độ cao, ngày càng sâu sắc và toàn diện. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã nêu: “Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng giảng viên và cán bộ quản lý; xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học, đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, tầm nhìn chiến lược, nâng cao sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán ộ lãnh đạo, quản lý.
Đổi mới phươpng thức tuyển dụng theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế hợp đồng dài hạn, bảo đảm sự bình đẳng giảng viên biên chế hợp đồng, giữa giảng viên ở cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục ngoài công lập. Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với giảng viên bao 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm tiêu chuẩn giảng viên, định mức lao động, điều kiện làm việc, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chế độ nghỉ dạy dài hạn để trao đổi học thuật và cơ chế đánh giá khách quan kết quả công việc. Ban hành chính sách, chế độ kiêm nhiệm giảng dạy.
Đổi mới quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo hướng giao cho các cơ sở giáo dục đại học thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn và điều kiện chung do Nhà nước quy định. Định kỳ đánh giá để bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Cải cách thủ tục hành chính xét công nhận giảng viên, giảng viên chính” [2]. Đương nhiên, trong thời gian qua công tác quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ giảng viên bộc lộ nhiều yếu kém nên “Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học ít có điều kiện thường xuyên tiếp cận, cập nhật tri thức và những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới” [2]. Đứng trước thực trạng đó, hiển nhiên công tác quản lý giáo dục, quản lý nhà trường của chúng ta phải nghiên cứu một cách triệt để và nghiêm túc lý luận và thực tiễn lĩnh vực này. Vào những năm 70 - 80 thế kỷ XX, ở nước ta một số nhà giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc đã có những bài viết, những đề tài, những nghiên cứu về lĩnh vực này. Trong số đó phải kể đến các nhà nghiên cứu như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đức Chính, Trần Khánh Đức, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm… Trong những năm gần đây ở nước ta phương hướng nghiên cứu về phát triển và quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã có sự quan tâm đặc biệt; đáng quan tâm là những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về “Công tác quản lý chất lượng giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về “Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.