phần mở đầu, Công ước thừa nhận một cách rõ ràng rằng "sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi" và nhấn mạnh sự phân biệt đối xử "vi phạm các nguyên tắc về quyền bình đẳng, xúc phạm tới nhân phẩm con người". Sự phân biệt đối xử đã được định nghĩa ở Điều I là "bất kỳ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính. trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác". Công ước còn khẳng định rõ: tất cả các hình thức phân biệt đối xử đều bị lên án và các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, bao gồm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả biện pháp pháp luật, nhằm bảo đảm cho phụ nữ được thực hiện và thụ hưởng đầy đủ quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới (Điều 2 và Điều 3).
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 ghi rõ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Tuyên ngôn của cách mạng tư sản Pháp (1789) tuyên bố: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Những lời tuyên bố trong các tuyên ngôn nói trên đã khẳng định sự mong muốn của con người, của công dân-một khát vọng tột bậc đó là sự bình đẳng.
Thông qua nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau mà đặc biệt là Hội nghị thế giới lần thứ hai về quyền con người ở Viên (Áo) trong năm 1993, bạo lực gia đình ngày càng được nhìn nhận như một trở ngại đối với sự bình đẳng và là sự vi phạm thô bạo không thể chấp nhận được đối với nhân phẩm và các quyền con người. Liên hợp quốc trong năm 1999 đã thông qua ngày 25 tháng 11 hàng năm là Ngày Quốc tế về xóa bỏ bạo lực chống lại phụ nữ. Sống trong một đất nước đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược do các thế lực thù địch gây ra và do đó, cũng là một quốc gia dân tộc bị vi phạm lớn nhất về quyền con người, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam hiểu rằng, quyền con người nói chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của cả nhân loại, được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng quốc gia dân tộc. Vì vậy, trong một thế giới toàn cầu hóa kinh tế và ngày càng phát triển đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người, cần có sự kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và những giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của mỗi 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia dân tộc.
Đồng thời, cần có sự nhìn nhận toàn diện đối với tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của phụ nữ trong một tổng thể hài hòa, không nên xem nhẹ bất cứ quyền nào. Việc bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người trước hết là bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia dân tộc. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc, có tính đến hoàn cảnh của quốc gia mình để bảo đảm cho người dân được hưởng thụ quyền con người một cách tốt nhất. Thế nhưng, do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau.
Sự hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Xã hội Việt Nam ngày nay, các quyền cơ bản của phụ nữ đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới. Những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của đất nước, các quyền cơ bản của phụ nữ cũng ngày càng được hoàn thiện cả về mặt pháp lý, nội dung và điều kiện thực hiện.
Xem xét một cách tổng quát nội dung hệ thống Hiến pháp, pháp luật nước ta, có thể nói rằng, qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, căn cứ vào những điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí của nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn luôn tôn trọng những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người nói chung và các quyền cơ bản của phụ nữ nói riêng. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiến pháp năm 1946 khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực khi quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9); "Mọi công dân đều bình đẳng về quyền trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa" (Điều 6) và " Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 7). Những quy định kể trên đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực.
Những quy định đó cũng cho thấy tính chất tiến bộ của pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực này, nếu so sánh với pháp luật quốc tế. Bình đẳng nam nữ (trên tất cả các phương diện) được khẳng định ngay từ Hiến pháp năm 1946, khi nước Việt Nam mới được thành lập. Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xây dựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận và đánh giá cao. Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 của nước ta đã kế thừa những nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp năm 1946 và liên tục bổ sung những nội dung mới nhằm bảo đảm và thúc đẩy hơn nữa vị thế, việc hưởng thụ các quyền con người của phụ nữ.
Không những vậy, rất nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân - gia đình. cũng được Nhà nước ban hành và sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ, nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc về bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp. Trước hết, Hiến pháp năm 1980 khẳng định lại các quyền xã hội cơ bản trong Hiến pháp năm 1959, nhưng bổ sung, mở rộng nội dung phần lớn các quyền đó cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Đối với quyền bình đẳng nam, nữ (Điều 63), Hiến pháp bổ sung các điểm mới: một là, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ để phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội; hai là, Nhà nước cần hoạch định chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ.
Là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đạt tới sự phát triển cao trong việc hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân. Hiến 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp năm 1992, một mặt, tiếp tục ghi nhận những quyền xã hội mà Hiến pháp năm 1980 quy định; mặt khác, sửa đổi, bổ sung nội dung các quyền đó cho phù hợp với khả năng và điều kiện của đất nước. Từ đó cũng làm xuất hiện một số quyền xã hội mới. Điều 63 quy định quyền bình đẳng nam, nữ và bổ sung: "Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ".
Việc bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh đập, hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữ như là một công cụ để làm giầu phi pháp. Nhận thức được vai trò to lớn của phụ nữ đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện để phụ nữ đạt được sự tiến bộ và bình đẳng trong gia đình và xã hội. Quy định trên là căn cứ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xâm phạm đến quyền bình đẳng của phụ nữ, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc răn đe, ngăn chặn tình trạng xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Căn cứ vào các chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới, các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và yêu cầu của việc phải lồng ghép giới trong việc xây dựng pháp luật, Bộ luật hình sự đã hình sự hóa những hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cũng như các hành vi khác trên cơ sở giới bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, trong đó đặc biệt chú trọng đến các nguyên tắc như: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới; chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Cụ thể, về nguyên tắc xử lý tội phạm, Điều 3 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định "1- Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. 2- Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội" [33]. Quy định này phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992: "Mọi công dân 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.