Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vấn đề giới và bình đẳng giới là tiêu chí cốt lõi để đánh giá sự tiến bộ và công bằng xã hội của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, chủ trương bảo đảm quyền bình đẳng giới đã được thể chế hóa thông qua các văn kiện quan trọng như Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020 và Luật Bình đẳng giới năm 2006. Mặc dù Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận là điểm sáng trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, thực tiễn đời sống gia đình vẫn chịu sự chi phối nặng nề từ tàn dư tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ", các hủ tục lạc hậu tại vùng sâu, vùng xa, cùng với tình trạng bạo lực gia đình và sự bất bình đẳng trong phân công lao động, sở hữu tài sản.
Trước yêu cầu cấp thiết về việc nhận diện đúng bản chất và nâng cao hiệu lực thực thi quyền bình đẳng giới trong tế bào của xã hội, đề tài "Bình đẳng giới trong gia đình" được tác giả Cao Đăng Huy thực hiện làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (chuyên ngành Luật Dân sự, dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Vĩnh Châu, hoàn thành tháng 8/2012).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận hình thành quyền bình đẳng giới trong gia đình dựa trên tiếp cận quyền con người (quyền tự nhiên và quyền pháp lý), đồng thời xác lập các đặc điểm bản chất của quyền này.
- Khảo cứu tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay) và kinh nghiệm quốc tế về việc ghi nhận quyền bình đẳng giới trong gia đình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật thực định của Việt Nam về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, cũng như trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
- Nhận diện những hạn chế, khoảng trống pháp lý và rào cản thực tiễn (về đăng ký tài sản chung, phân công lao động, bạo lực gia đình, mất cân bằng giới tính khi sinh); từ đó đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi cụ thể nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong gia đình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bình đẳng giới trong gia đình, trọng tâm là mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái.
- Phạm vi không gian và pháp lý: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam (các bản Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành); có đối chiếu với các công ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các quy chuẩn pháp lý từ thời kỳ cổ luật (thế kỷ XI) đến thời điểm khóa luận được hoàn thành (tháng 8/2012).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, hôn nhân một vợ một chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ ("phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng").
Về mặt lý luận quyền con người, tác giả dung hòa hai trường phái học thuyết lớn:
- Học thuyết quyền tự nhiên (Natural Rights): Tiếp cận quan điểm của các nhà tư tưởng như Locke, Rousseau, Spinoza, Hobbes, Kant, Pufendorf, Jefferson; khẳng định bình đẳng nam nữ là quyền bẩm sinh, thiêng liêng, gắn liền với phẩm giá con người ngay từ khi sinh ra mà không chủ thể nào có thể ban phát hay tước đoạt.
- Học thuyết quyền pháp lý (Legal Rights): Khẳng định quyền con người cần được thể chế hóa và bảo đảm thực thi thông qua ý chí của nhà nước trong các văn bản pháp luật quốc gia và văn kiện pháp lý quốc tế.
Về mặt khái niệm học thuật, công trình phân định rõ sự khác biệt giữa hai phạm trù:
- Giới tính (Sex): Thuật ngữ sinh học chỉ sự khác biệt thể chất bẩm sinh, di truyền, bất biến giữa nam và nữ.
- Giới (Gender): Khái niệm xã hội học (được Ann Oakley đưa vào nghiên cứu từ năm 1972) chỉ vai trò, trách nhiệm, chuẩn mực và quyền lợi do xã hội gán cho mỗi giới; mang tính tập nhiễm và có thể biến đổi.
Từ định nghĩa tại Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, tác giả xây dựng khái niệm: Bình đẳng giới trong gia đình là sự bình đẳng trên hết và trước hết giữa vợ và chồng về quyền và nghĩa vụ đối với mọi mặt đời sống gia đình; không phân biệt đối xử giữa các thành viên; mỗi cá nhân được tạo điều kiện phát triển bình đẳng và có nghĩa vụ cùng chia sẻ trách nhiệm gia đình theo năng lực. Quyền này mang ba đặc điểm lý luận: tính phổ biến, tính đặc thù (chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của từng thời kỳ) và tính liên hệ phụ thuộc lẫn nhau với các quyền con người khác.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu giữa các thời kỳ lịch sử và với pháp luật quốc tế), phương pháp lịch sử - cụ thể và phương pháp thống kê tư liệu.
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm:
- Văn kiện pháp lý quốc tế: Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948 - Điều 16), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966 - Điều 23), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR 1966), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW 1979 - Điều 1, 16).
- Cổ luật và văn bản pháp luật qua các thời kỳ: Chiếu đời Lý Thái Tông (1042), An Nam lược chí thời Trần, Bộ luật Hồng Đức (1483), Hoàng Việt luật lệ (1815), Dân luật Bắc kỳ (1931), Dân luật Trung kỳ (1936), Dân luật giản yếu Nam kỳ (1883).
- Pháp luật hiện đại: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi 2001); Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL (1950); Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và 2000; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Bộ luật Dân sự năm 2005; cùng hệ thống Nghị định (70/2001/NĐ-CP, 70/2008/NĐ-CP, 48/2009/NĐ-CP, 55/2009/NĐ-CP), Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (NQ 02/2000/NQ-HĐTP) và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận và bức tranh lịch sử lập pháp về bình đẳng giới:
- Nguồn gốc quyền: Phân tích quyền bình đẳng giới từ nguồn gốc quyền tự nhiên và quyền pháp lý; nhấn mạnh vai trò của các văn kiện quốc tế như Hiến chương LHQ 1945 và đặc biệt là Công ước CEDAW trong việc xóa bỏ phân biệt đối xử đối với phụ nữ về quyền kết hôn, quyền nhân thân, quyền sở hữu và định đoạt tài sản trong gia đình (Điều 16 CEDAW).
- Hệ thống hóa khái niệm và đặc điểm: Phân biệt "giới" và "giới tính", phân tích các cách tiếp cận bình đẳng giới (bình đẳng hình thức/cào bằng cơ học so với bình đẳng thực chất có nhận thức giới); luận giải ba đặc tính: tính phổ biến toàn cầu, tính đặc thù theo thể chế - văn hóa và tính liên hệ phụ thuộc chặt chẽ với các quyền dân sự, kinh tế, xã hội khác.
- Lịch sử bình đẳng giới trong gia đình Việt Nam qua các thời kỳ:
- Thời kỳ phong kiến (thế kỷ XI - 1858): Pháp luật củng cố chế độ phụ quyền gia trưởng. Thời Lý - Trần coi phụ nữ là tài sản của chồng (Chiếu năm 1042 cho phép chồng đánh chết kẻ gian dâm với vợ; tục tuẫn táng). Thời Lê Sơ với Bộ luật Hồng Đức (1483), tuy chịu ảnh hưởng Nho giáo nhưng chứa đựng nhiều hạt nhân tiến bộ: người vợ có quyền xin ly hôn nếu chồng bỏ lửng 5 tháng hoặc 1 năm nếu có con (Điều 308) hoặc chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ phi lý (Điều 333); thừa nhận quyền tài sản của người vợ khi chồng chết mà không có con (Điều 375); bảo đảm quyền thừa kế hương hỏa bình đẳng của con gái (Điều 388, 391); nghiêm cấm chồng đánh đập vợ (Điều 428). Thời Nguyễn với Hoàng Việt luật lệ (1815) thể hiện sự thụt lùi lập pháp khi Nho giáo độc tôn hoàn toàn, tước bỏ quyền tài sản riêng của vợ và hợp pháp hóa quyền gả bán vợ phạm tội thông gian của chồng (Điều 108, 332).
- Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945): Duy trì chế độ đa thê (Điều 79, 80 Dân luật Bắc kỳ), hôn nhân cưỡng ép (Điều 77, 78); quy định người phụ nữ lấy chồng bị xem là "vô năng lực", chịu sự quản lý của người gia trưởng về thân nhân và tài sản; con ngoài giá thú không được kiện nhận cha mẹ (Điều 168, 174 Dân luật Bắc kỳ).
- Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay: Hiến pháp 1946 (Điều 9) lần đầu ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ; Sắc lệnh 97/SL năm 1950 công nhận người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ (Điều 6); Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 tạo bước ngoặt giải phóng phụ nữ; các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và các luật chuyên ngành (Bộ luật Dân sự 2005, Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007) đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình.
- Pháp luật quốc tế: Đề cập khái quát các chuẩn mực quốc tế và quy định tại một số quốc gia về bảo vệ quyền bình đẳng giới trong quan hệ gia đình.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
Chương II đi sâu vào phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và các vấn đề thực tiễn phát sinh:
- Thực trạng quy định pháp luật về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:
- Pháp luật bảo đảm quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, nghề nghiệp, học tập nâng cao trình độ và tham gia công tác chính trị - xã hội của vợ và chồng (Khoản 3 Điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006; Điều 23 Luật HN&GĐ 2000).
- Bình đẳng trong quyền yêu cầu ly hôn: Việc giải quyết ly hôn dựa trên tình trạng hôn nhân trầm trọng chứ không phụ thuộc vào yếu tố lỗi (Điều 90, 91 Luật HN&GĐ 2000; Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP). Pháp luật hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi vợ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 2 Điều 85 Luật HN&GĐ 2000) nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh.
- Bình đẳng về quyền đại diện cho nhau theo pháp luật hoặc theo ủy quyền trong các giao dịch dân sự (Điều 24 Luật HN&GĐ 2000), xóa bỏ hoàn toàn định kiến người vợ "vô năng lực".
- Vợ chồng bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái (Điều 36 Luật HN&GĐ 2000); quyền và nghĩa vụ đối với con vẫn được duy trì sau khi ly hôn (Điều 92, 94).
- Thực trạng quy định pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng:
- Tài sản chung: Vợ chồng bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt; tài sản thuộc sở hữu chung phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy chứng nhận phải ghi tên cả vợ và chồng (Khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ 2000); định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất phải có thỏa thuận bằng văn bản (Khoản 3 Điều 28).
- Phân chia tài sản chung: Khi ly hôn, tài sản chung về nguyên tắc chia đôi có tính đến hoàn cảnh, công sức đóng góp và công nhận lao động nội trợ gia đình như lao động có thu nhập (Điều 95 Luật HN&GĐ 2000). Về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29), luật hiện hành còn khuyết thiếu quy định về chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu hoặc xử lý tranh chấp nghĩa vụ nuôi con sau khi chia tài sản.
- Tài sản riêng: Thừa nhận quyền sở hữu độc lập đối với tài sản có trước hôn nhân, được tặng cho riêng, thừa kế riêng (Điều 32), nhưng có thể bị hạn chế nếu tài sản riêng đưa vào sử dụng là nguồn tài chính duy nhất của gia đình (Điều 33). Tác giả chỉ ra khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng trên thực tế do thiếu cơ chế công khai tài sản.
- Quan hệ thừa kế và cấp dưỡng: Vợ chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau (Điều 676 BLDS 2005) và có quyền lập di chúc chung (Điều 663 BLDS 2005). Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn (Điều 60 Luật HN&GĐ 2000), tác giả phân tích tính bất hợp lý của điều luật này khi quan hệ nhân thân đã chấm dứt và tài sản đã được phân chia sòng phẳng.
- Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình:
- Nghĩa vụ chia sẻ công việc gia đình được luật hóa tại Khoản 1 Điều 49 Luật HN&GĐ 2000 và Khoản 5 Điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006, chuyển hóa việc nội trợ từ trách nhiệm mặc định của phụ nữ thành nghĩa vụ chung của mọi thành viên.
- Bình đẳng trong tiếp nhận quyền giữa các con: Cấm phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, giữa con trong giá thú và con ngoài giá thú trong chăm sóc, học tập và thừa kế.
- Thực trạng thi hành và các điểm nghẽn thực tiễn:
- Tình trạng giấy tờ sở hữu tài sản chung của hộ gia đình/vợ chồng phần lớn vẫn chỉ do người chồng đứng tên; người chồng thường là người đơn phương đưa ra các quyết định kinh tế quan trọng.
- Bất bình đẳng trong phân công lao động: phụ nữ vẫn phải gánh vác phần lớn công việc nội trợ không tên và chăm sóc con cái.
- Vấn nạn bạo lực gia đình diễn biến phức tạp cả về thể xác lẫn tinh thần.
- Mất cân bằng giới tính khi sinh xuất phát từ tâm lý định kiến đòi hỏi phải có con trai nối dõi tông đường.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp sự biến đổi của chế định pháp luật về địa vị pháp lý của người phụ nữ và bình đẳng giới qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam:
| Thời kỳ lịch sử / Văn bản |
Quyền nhân thân của người vợ |
Quyền tài sản của người vợ |
Quyền lợi của con cái |
| Nhà Lý - Trần (Thế kỷ XI - XIV) |
Bị coi như tài sản của chồng; chồng có quyền sinh sát khi vợ gian dâm (Chiếu 1042); có tục tuẫn táng. |
Không có tài sản riêng; toàn bộ gia sản thuộc quyền quản lý của người gia trưởng. |
Chịu sự chi phối hoàn toàn của quyền phụ quyền gia trưởng. |
| Nhà Lê Sơ - Bộ luật Hồng Đức (1483) |
Được quyền xin ly hôn khi chồng bỏ mặc 5 tháng/1 năm (Đ.308) hoặc mắng cha mẹ vợ (Đ.333); cấm chồng đánh vợ (Đ.428). |
Có quyền sở hữu tài sản chung; được nhận phần tài sản riêng khi chồng chết không con (Đ.375, 376). |
Con gái được hưởng quyền thừa kế hương hỏa bình đẳng như con trai (Đ.388, 391). |
| Nhà Nguyễn - Hoàng Việt luật lệ (1815) |
Phụ thuộc hoàn toàn vào chồng; chồng có quyền gả bán vợ khi vợ phạm tội thông gian (Đ.108, 332). |
Không quy định tài sản riêng của vợ; không có quyền tham gia định đoạt tài sản gia đình. |
Không có quyền có tài sản riêng; hôn nhân do cha mẹ sắp đặt hoàn toàn (Lệ 1 Đ.94, Đ.109). |
| Thời Pháp thuộc (1858 - 1945) |
Bị coi là "vô năng lực"; chịu sự kiểm soát hành vi, giao dịch, nơi cư trú của chồng; thừa nhận đa thê. |
Tài sản gia đình thuộc quyền quản lý của người chồng (trừ khi có hôn ước riêng ở Bắc/Trung kỳ). |
Phân biệt đối xử với con ngoài giá thú; con sống chung không có quyền có tài sản riêng (Đ.207). |
| Giai đoạn hiện đại (Luật HN&GĐ 2000, Luật BĐG 2006) |
Hoàn toàn bình đẳng về tự do cư trú, học tập, việc làm, quyền đại diện và quyền yêu cầu ly hôn. |
Bình đẳng trong tạo lập, chiếm hữu, định đoạt; giấy tờ tài sản chung ghi tên cả hai vợ chồng; nội trợ tính là lao động có thu nhập. |
Bình đẳng tuyệt đối giữa các con (trai - gái, trong - ngoài giá thú); chia sẻ công việc gia đình là nghĩa vụ pháp lý. |
Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật thực định, tác giả đề xuất ba nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể:
- Bổ sung quy định về giải quyết tranh chấp sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Cần quy định rõ trong trường hợp sau khi chia tài sản chung mà phát sinh tranh chấp về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án sẽ giải quyết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền; áp dụng tương tự quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn.
- Đề xuất cơ chế khuyến khích kê khai tài sản khi đăng ký kết hôn: Thiết lập cơ chế công khai tài sản gồm: danh mục tài sản riêng của mỗi bên không muốn nhập vào khối tài sản chung; danh mục tài sản chung do hai bên tạo lập trước hôn nhân hoặc tự nguyện nhập chung; các tài sản nhỏ không kê khai mặc nhiên xem là của chung; bản kê khai có chữ ký/điểm chỉ trước cơ quan hộ tịch có thẩm quyền, đóng vai trò là chứng cứ then chốt khi Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản ly hôn.
- Kiến nghị bãi bỏ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn (Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000): Tác giả lập luận rằng ly hôn làm chấm dứt hoàn toàn quan hệ nhân thân giữa hai vợ chồng. Bản chất của cấp dưỡng là quyền nhân thân gắn liền với tài sản; khi ly hôn, tài sản chung đã được Tòa án phân chia có tính toán đầy đủ đến hoàn cảnh và quyền lợi của mỗi bên (đặc biệt là người vợ). Do đó, việc duy trì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai cá nhân độc lập không còn quan hệ ràng buộc nhân thân là không hợp lý và không còn cần thiết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tác giả tự nhận định là nghiên cứu một chủ đề rộng, phức tạp và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp lý cũng như xã hội học. Do hạn chế về thời lượng và phạm vi của khóa luận tốt nghiệp cử nhân, công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái dưới góc độ luật thực định và lịch sử lập pháp.
Các hướng nghiên cứu có thể mở rộng tiếp theo bao gồm:
- Khảo cứu thực tiễn áp dụng các biện pháp chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới theo Nghị định số 55/2009/NĐ-CP.
- Đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trong việc áp dụng nguyên tắc ghi tên cả hai vợ chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và chia tài sản chung khi ly hôn.
- Nghiên cứu sâu hơn về quan hệ bình đẳng giữa các thành viên khác trong gia đình đa thế hệ tại Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển đổi kinh tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật So sánh, ngành Xã hội học và chuyên ngành Giới và Phát triển.
- Các nhà nghiên cứu và người thực hiện đề tài liên quan đến lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam (đặc biệt là nội dung so sánh quy chế người phụ nữ giữa Bộ luật Hồng Đức 1483 và Hoàng Việt luật lệ 1815).
- Các cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, cán bộ Hội Phụ nữ, cán bộ tư pháp - hộ tịch có nhu cầu tham khảo luận điểm hoàn thiện cơ chế đăng ký tài sản chung vợ chồng và chế định phân chia tài sản hôn nhân.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả đánh giá Bộ luật Hồng Đức (1483) có tính tiến bộ vượt bậc hơn Hoàng Việt luật lệ (1815) về bình đẳng giới?
Bộ luật Hồng Đức tuy thuộc chế độ phong kiến nhưng đã quy định cho người vợ quyền xin ly hôn trong những hoàn cảnh cụ thể (chồng bỏ lửng 5 tháng hoặc 1 năm nếu có con theo Điều 308; chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ phi lý theo Điều 333), ghi nhận quyền sở hữu tài sản của người vợ khi chồng chết không có con (Điều 375, 376) và cho phép con gái được hưởng thừa kế hương hỏa bình đẳng như con trai (Điều 388, 391). Ngược lại, Hoàng Việt luật lệ năm 1815 chịu ảnh hưởng tuyệt đối của Nho giáo, không quy định tài sản riêng của người vợ, coi vợ phụ thuộc hoàn toàn vào chồng và thậm chí cho phép chồng gả bán vợ phạm tội thông gian (Điều 108, 332).
2. Căn cứ pháp lý nào quy định tài sản chung của vợ chồng phải đứng tên cả hai người?
Quy định này được thể chế hóa tại Khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng.
3. Vì sao tác giả kiến nghị bãi bỏ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn (Điều 60 Luật HN&GĐ 2000)?
Tác giả lập luận rằng khi bản án ly hôn có hiệu lực, quan hệ nhân thân giữa vợ chồng đã chấm dứt hoàn toàn, biến họ thành hai chủ thể độc lập. Cấp dưỡng là quyền nhân thân gắn liền với tài sản; mặt khác, khi ly hôn Tòa án đã phân chia tài sản chung có cân nhắc đến hoàn cảnh sống và công sức đóng góp của mỗi bên. Việc tiếp tục buộc một bên phải cấp dưỡng cho người cũ khi không còn bất kỳ ràng buộc nhân thân nào là thiếu tính thuyết phục về mặt lý luận pháp lý.
4. Nội dung cơ chế kê khai tài sản khi kết hôn được tác giả đề xuất gồm những điểm chính nào?
Cơ chế gồm: phân định phần kê khai tài sản riêng (tài sản không muốn nhập chung) và phần ghi tài sản chung (tạo lập trước hôn nhân hoặc tự nguyện nhập chung); các tài sản nhỏ không kê khai mặc nhiên xem là tài sản chung; đương sự tự ký tên/điểm chỉ trước cơ quan hộ tịch có thẩm quyền; bảng kê khai có giá trị làm chứng cứ khi giải quyết tranh chấp tài sản ly hôn.
5. Khóa luận chỉ ra khoảng trống pháp lý nào trong chế định phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 29) và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP tuy quy định việc chia tài sản chung không có lý do chính đáng sẽ vô hiệu, nhưng lại không quy định rõ ai là chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản này, cũng như chưa có cơ chế cụ thể giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái phát sinh sau khi vợ chồng chia tài sản và sống độc lập về kinh tế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Đăng Huy đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền bình đẳng giới trong gia đình từ góc độ quyền con người, phân tích sâu sắc tiến trình lập pháp qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật thực định. Công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn trong quan hệ tài sản, phân công lao động và bạo lực gia đình, đồng thời đưa ra các kiến nghị lập pháp xác đáng nhằm hoàn thiện chế định tài sản vợ chồng và nâng cao hiệu lực thực thi bình đẳng giới trong thực tiễn. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị học thuật và thực tiễn tham khảo cao trong lĩnh vực luật hôn nhân và gia đình.