Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Các khái niệm công cụ 1. Giới, giới tính Dưới góc độ khoa học: Giới tính và giới là hai thuật ngữ đã trở nên quen thuộc. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều người vẫn nhầm lẫn và tranh cãi về ý nghĩa của hai khái niệm này hoặc cho rằng cả hai không có gì khác biệt hoặc chỉ muốn nói đến hai nhóm người: phụ nữ và nam giới.
Sự không rõ ràng này thường dẫn đến những quan niệm không đúng về sự khác biệt giới dẫn đến bỏ qua sự đa dạng của vấn đề giới trong xã hội. Do đó, phân biệt tách bạch giữa hai khái niệm này là cần thiết, đặc biệt với những người làm công tác liên quan đến bảo đảm bình đẳng giới hiện nay. Theo Chương trình bình đẳng giới khu vực Đông Nam á (SEAGEP - 2001), giới và giới tính được định nghĩa như sau: Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ không thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính.
Ví dụ như việc mang thai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính. Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị. Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được. Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc ngắn.
Khác với vấn đề giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa nam giới và phụ nữ, khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội do các nhóm xã hội con người tạo ra. Những quan niệm về giới luôn nảy sinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác nhau [44]. Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau giữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi thực hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian [17]. Phân biệt giữa Giới và Giới tính [1] Giới Giới tính Giới mô tả chúng ta thể hiện nam Giới tính mô tả tính hoặc nữ tính chúng ta là nam hay nữ Giới là: Giới tính là: Được xây dựng nên bởi xã Sinh học - đó là những đặc hội - nó là những vai trò, trách tính thể chất đã có từ khi chúng nhiệm và hành vi mong đợi ở ta sinh ra.
nam và nữ trong một văn hóa Phổ biến - những đặc tính hoặc xã hội cụ thể. về tình dục giống nhau trên Văn hóa - những yếu tố toàn thế giới - nam giới có của giới khác nhau giữa các dương vật và phụ nữ có âm đạo nền văn hóa và bên trong các ở tất cả các nước. Bạn được sinh ra với giới Những vai trò về giới là tính của bạn - điều này không được học tập - chúng phát thể thay đổi. triển và thay đổi theo thời gian.
Nguồn: Ban vì sự tiến bộ Phụ nữ ngành Tư pháp (2013), Tài liệu tập huấn công ước CEDAW và các điều ước quốc tế có liên quan, Hà Nội. Cụ thể những khác biệt về giới có thể xem xét ở các khía cạnh sau đây: 1. Về vai trò Cả nam giới và nữ giới đóng nhiều vai trò trong xã hội và các vai trò này là khác nhau theo giới. Các vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ trong một xã hội hay một nền văn hóa cụ thể nào đó.
Đó cũng là các mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ai nên làm gì, ai là người ra quyết định, khả năng tiếp cận nguồn lực và các lợi ích [16]. Ví dụ: các nhóm dân tộc khác nhau sẽ xác định vai trò của phụ nữ khác nhau, mặc dù chế độ gia trưởng phụ quyền là chủ yếu ở đa số các nhóm dân tộc, thì chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại ở một số nhóm dân tộc thiểu số. Do phụ nữ và nam giới thực hiện các vai trò giới khác nhau nên họ cũng có những nhu cầu giới khác nhau. Về Sự phân công lao động Trong xã hội có một sự phân công lao động giữa nam giới và phụ nữ.
Sự phân công lao động theo giới đề cập đến công việc khác nhau của nam giới và phụ nữ trong gia đình, trong sản xuất và trong cộng đồng. Sự khác nhau này có liên quan đến vị trí quyền lực của mỗi giới và che giấu sự tồn tại đáng kể của sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, nó ảnh hưởng và khẳng định vị trí phụ thuộc của phụ nữ. Một số nhiệm vụ có truyền thống là công việc của phụ nữ trong khi đó, các công việc khác có truyền thống là công việc của nam giới. Công việc của phụ nữ thường được trả lương thấp và bị coi thường, trong khi nam giới được giao công việc có tầm quan trọng về mặt xã hội tương đối cao hơn [17].
Ở nông thôn, có sự khác biệt về thời gian làm việc giữa phụ nữ và nam giới, tuy thời gian giành cho công việc tạo thu nhập là như nhau, nhưng so với nam giới, phụ nữ phải mất thời gian gấp hai lần cho việc nhà không được thù lao. Vì vậy phụ nữ lúc nào cũng mất thời gian làm việc nhiều hơn đáng kể so với nam giới dù ở thời điểm nào trong cuộc đời mình dẫn đến thời gian giành cho nghỉ ngơi của họ ít hơn khá nhiều so với nam 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới và cũng không có thời gian cho các hoạt động xã hội và học tập trao đổi kinh nghiệm [27]. Về sức khỏe Phụ nữ phải cáng đáng gánh nặng công việc vượt xa nam giới với thời gian làm việc dài, ít có thời gian nghỉ ngơi dẫn đến hậu quả tiêu cực là họ thường phải làm việc quá sức, điều này có nhiều tác động lên sức khỏe và thể chất, đặc biệt là phụ nữ nông thôn khu vực có tỷ lệ phụ nữ ốm đau cao hơn nhiều so với nam giới. Một khía cạnh khác về sức khỏe là phụ nữ không được chăm sóc dinh dưỡng tốt bằng nam giới, khác biệt giới về tình trạng dinh dưỡng của những người trưởng thành là lớn nhất ở khu vực nông thôn.
Điều này cho thấy khả năng tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực tương đối ít hơn so với nam giới [27]. Sự khác biệt sức khỏe giữa nam giới và phụ nữ không chỉ do môi trường, nuôi dưỡng và tập quán xã hội, mà còn do bẩm sinh, di truyền như: nam giới có hệ xương lớn thích hợp cho những cộng việc nặng nhọc, nhiệm vụ tái sản xuất xã hội bao gồm trách nhiệm sinh đẻ và chăm sóc con trẻ là của phụ nữ. Về tâm sinh lý Lý thuyết cho rằng nam giới và phụ nữ có sự tiến hóa khác nhau về tác phong và tư duy đã được chấp nhận rộng rãi [4]. Ví dụ: Nam giới có tâm lý cứng cỏi, mạnh mẽ, hành động dựa vào lý trí… Phụ nữ thì dịu dàng, tình cảm… 1.
Về Quan niệm xã hội Khi sinh ra, con người không mang những đặc tính giới. Những đặc tính giới chỉ được hình thành trong quá trình hoạt động ở gia đình và ngoài xã hội. Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử tùy theo trai hay gái. Mọi người vẫn quen rằng, với trẻ gái thì cho chơi búp bê, dụng cụ nấu ăn.
Cũng bởi con người thường có suy nghĩ mang tính áp đặt về những gì mà nam và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nữ có khả năng và loại hoạt động mà họ nên làm, do đó ngay từ trong gia đình con trai đã được học từ bố và con gái học được từ mẹ những quy tắc và kỳ vọng về hành vi “nam” và hành vi “nữ” của mình. Chính những định kiến này đã tác động làm ảnh hưởng đến cá nhân và những người xung quanh. Những đặc điểm liên quan đến nam và nữ thường bị rập khuôn, mang tính cố định (tương đối) và hầu như không có sự lựa chọn nào khác [50]. Những định kiến, quy chuẩn xã hội này đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người.
Do đó, làm cho định kiến giới tồn tại dai dẳng và xuất phát từ những quan niệm xã hội tác động tới số lượng người rất lớn - đại đa số dân cư. Ví dụ: trong xã hội còn nhiều quan niệm xã hội phân biệt giữa phụ nữ và nam giới như: đặt phụ nữ vào vị trí của người chăm sóc, phải ở gần gia đình và chăm sóc cho gia đình; nội trợ không phải là công việc của đàn ông; truyền thống phụ hệ coi nam giới là trụ cột trong gia đình và là người ra quyết định. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Giới tính chỉ đặc điểm đực (♂) và cái (♀) trong giới sinh vật. Ở người là toàn bộ những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ.
Giới tính của con người có nguồn gốc sinh học và nguồn gốc xã hội. Những đặc điểm giải phẫu và sinh lí của cơ thể là tiền đề và cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt của giới tính. Tình cảm và ý thức về giới chỉ được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp với người khác, dưới ảnh hưởng của giáo dục và các điều kiện xã hội. Chính xã hội quy định và đánh giá giới tính của con người về mặt xã hội, quy định sự phân công lao động giữa nam và nữ, đòi hỏi ở mỗi giới phải có tiêu chuẩn đạo đức, cách cư xử, tác phong, đặc điểm khác nhau [35].