Chương 1: Một số van đề ly tuận và pháp lý về chông phân biệt đôi xử với phụ nữ trong nh vực lao động, việc làm. Chương 2: Thực trang pháp luật về chông phân biệt đổi xử với phụ nữ trong Tính vực lao động, việc làm ở Hoa Kỳ, Han Quốc và Việt Nam dưới góc độ so sánh. Chương3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao liệu quả thực hiện pháp luật về chồng phân biệt đối xử với phụ nữ trong lính vực lao động, việc làm ở Việt Nam từ kinh nghiệm của Hoa Kỷ và Hàn Quốc. MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHAP LÝ VỀ CHÓNG PHAN BIET DOI XỬ VỚI PHU NU TRONG LĨNH VỰC LAO DONG, VIỆC LAM 1.
Khái quát về chong phan biệt đối xử vớip hụ nữ trong linh vuc ho động, việc Am 1. Phụ wit và vị thé của phụ wit Ở bat cử thời dai nào, quốc gia, dân tộc nao, phụ nữ cũng luôn có những đóng gop quan trọng trong moi lĩnh vực xã hội va trong việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của méi dân tộc cũng nlur sáng tao ra của cải vật chất, tri thức nhằm phát triển thê giới. Tuy nhiên, trải qua quá trình hình thành và phát triển của loài người, vị thé và vai tro của phu nữ đã có những thay đổi đáng kê. Vị thé của phu nữ von được xác lập và được dé cao trong thời ky Công xã nguyên thuy với chế độ mau hệ, do khả năng thu hái thực phẩm và chức năng duy trì nòi giống nên phụ nữ đóng vai trò rat quan trong trong thời kì nay.
Bên canh đó, phụ nữ là đố: tương chủ yêu dam nhén việc hái lượm, có tham gia sẵn bắt, làm nghề nông nguyên thủy, chăn nuôi, thủ công. Khi yêu câu phát triển kinh tế thay đôi, sự chuyên minh tir ưa chuông hái lượm sang sẵn bắn làm cho vai trò của người đàn ông được đề cao, chế độ mẫu hệ tan rã thi vi thé của phụ nữ cũng dân bi suy giảm. Phụ nữ luôn bi coi là “phái yếu" vì: đặc điểm cầu trúc sinh học, thé luc; dac điểm tam sinh ly, tri luc; phong tuc tap quan va nhận thức xã hội, cu thể như sau: Thứ nhất. trong điêu kiện kinh tê - xã hội mới,những yêu tô về thể lực của phụ nữ như thé trạng nhỏ, chiêu cao trung bình thập hơn nam giới, sức khoẻ yêu hơn, tỷ lệ phụ nữ mắc mat số bệnh nhiéu hơn nam giới, lam cho khả năng sản xuất và dong gop cho xã hôi giảm; vì vậy, vai trò của phu nữ dân suy yêu.
Thêm nữa, về bản chat sinh học, với khối lượng cơ bắp nhiều hon, dung tích phối lớn hơn và quả tim bom mầu tốt hon’, bởi vây đàn ông có thể hoạt động thé chất mạnh mé hơn phụ nữ và chiếm tru thé trong các hình thái kinh tế - xã hôi của loài người sau này như chiêm hữu nô 1, phong kién, tư bản chủ nghia, nơi ma khả năng lao đông với cường dé lớn của người dan ông được đánh giá cao và mang lại nhiêu sản phẩm hơn Những giá trị đàn ông đóng góp cho xã hội năm ở phan dé dàng nhân thay và được ưa chuông hơn, như khả nắng đt lính chiên đâu, sẵn bắn, thực hiện các công việc mang tinh chat năng © ein Thủ Thu Ngyệt, Se inch giữopiatn ren gi be /vsotbecthgbing gJei3öacatmk thu-Vki -181-va-ruan-gioi-20 170922 180854519 him, try cập ngày 16/02/2024 nhọc hơn so với phụ nữ: Thứ hai, xét về góc đô tâm lý và trí lực, đa phân phụ nữ chiu những ảnh hưởng của môi trường nhiêu hon so với nam giới. Ho thường có xu hướng thụ đông, bị cảm xúc chi phối trong khi nam giới có xu hướng hành động nhanh chóng, quyết đoán va tinh thân sẵn. sang đối mat với thử thách, kha năng chiu áp lực cao trong công việc. Đặc biệt, sau khi thực luận thiên chức làm me, người phụ nữ bị ảnh hưởng về tâm lý (bệnh tram cảm ở nữ giới phổ biến hơn nam giới với tỷ lệ là 5,19% ở nữ so với 3,6% ở nam) và suy giảm về trí lực, dẫn tới hiệu qua công việc cũng bi suy giảm Thứ ba, phụ nữ bi xem thường, coi nhẹ trong nhận thức của xã hội và phong tục tập quán của các quốc gia.
Trong cuộc chiên giảnh vị trí và khẳng định giá trị giữa hai giới, đàn ông luôn luôn chiếm tu thê hơn. Dường như tập tục, tôn giáo và ý thức hệ luôn bảo vệ và bênh vực người dan ông, Trong một giai đoạn rat dài, nhiều thê ky, moi quyết đính của phụ nữ hau như hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiên của người đàn ông Ví dụ, truyền thuyết về Adam va Eva cho rang nguồn gộc của người phụ nữ chỉ là chiếc xương sườn của người dan ông Do đó, xã hội phương Tây cho rằng phụ nữ sông và duy trì sự sóng bên canh đàn ông một cách phái sinh, đặc biệt, tại Anh Quốc vào khoảng thé ki XIX trở về trước, thân phân thấp kém của người phụ nữ là một bức tranh hoàn toàn trái ngược với hình anh Nữ hoàng Anh day quyên uy như biên nay. Trong suốt thời kì này, phụ nữ Anh vẫn luôn bị coi là tài sản của người chẳng, họ có bổn phân phục vụ moi nhu cầu của người chồng tat cả những gì bản thân ho tạo ra hay con cái cũng thuộc quyền sở hữu của người chong’. Không chỉ x4 hội phương Tây, tại mat số quốc gia Châu Á, đặc biệt như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Viét Nam, thân phân phụ nữ vô củng thiệt thoi trong vòng cương téa của dao lý, lễ nghi Nho giáo, gia dinh, dong họ.
Tại môt số quốc gia Trung Đồng theo Đạo Hỏi, Kinh Koran minh thị xác nhận uy quyền của dan ông đối với phụ nữ: "Đàn ông có quyên đôi với dan ba vì Chúa đã sinh ra đàn ông cao qui hơn dan ba và vì đàn ông phải bỏ tài sản. của mình ra dé nuôi họ. Dan bà tốt phải biết vâng lời đàn ông vì dan ông săn sóc cả phân tinh than của dan ba. Đối với những phụ nữ không biết vâng lời, dan ông có quyền ruông bỏ, không cho nằm chung giường và có quyên đánh đập".
Nhu vậy, tập 2 Globalheath observatory data, Wonsen and Health, hưtps:/Avtrv who ant/ghohvomen_ and, heallvev tray. ` Sara Delamont, Feminist Sociology,SAGE Publiction Ltd, London, 2003. + Untmuni Osmuni Holy Qravace Koreat Quaan Book, Abuighafer H. Khalil publisher (Ist edition), 2013 8 tục tôn giáo và ý thức hệ của nhiều quốc gia trên thé giới tác động đến quan điểm của xã hội, làm cho xã hội coi sự phân biệt đôi xử với phụ nữ là 1é di nhiên, tat yêu và điều nay không chỉ tên tại trong quá khứ ma vẫn còn duy trì cho tới hiện tại Bên cạnh đó, sự phân công lao đông theo giới còn rat bat công trong gia định và xã hội.
Quan niém coi việc nhà là đương nhiên chỉ dành cho phụ nữ vẫn còn rat phổ biển ở các quốc gia Chau A, Trung Đồng. Ngày qua ngày, tri tuệ của phụ nữ dân trì trệ và bân rôn vì các công việc nội trợ khiên họ không đủ năng lực như nam giới dé vươn lên trong công việc. Thêm nữa, thiên chức sinh dé là đặc quyền của tao hoá trao cho phụ nữ, song cũng làm ho gặp không ít khó khăn trong cuộc sống, Một phụ nữ bình thường mật trung bình 9 tháng cho việc mang thai, 1-2 ném cho việc cham sóc con nhỏ. Như vậy, nêu sinh 02 (ha) con, một phụ nữ mất đến 06 năm, tương ung 1/6 thời gian lao động của toàn bộ cuộc đời.
Đây là một khoảng thời gan trồng rat lớn trong sư nghiệp của một người phụ nữ, khi ho hoàn toàn bân rộn với những chức năng không thé thay thé được của minh va không còn thời gian cho công việc xã hội hay phát triển sự nghiệp. Tat cả những điều này đã kéo lùi vi thé của phụ nữtrong suy nghii của lãnh đạo và đồng nghiép. Ngoài ra, đức hy sinh là một trong những thuộc tinh của phụ nữ. Điều đó đôi khi cũng làm hạn chê khả năng sáng tạo của phụ nữ, họ sẵn sang lai bước cho nam giới.
Ho bi rang buộc bởi bổn phân với chồng, con cái đền mức khó lý giải. Tư tưởng trong nam khinh nữ cũng dan đến sự tư ti, an phan của phu nữ và trở thành những vật cần trên bước đường phân đầu của họ. An phận làm cần trở sự tiền bộ của phụ nữ, ké cả ở nữ trí thức với những biêu hiên ninr tâm lý ngại sự thay đổi, ngại phân đâu, bằng lòng với những gi dang có. Theo thời gian và nhận thức, xã hôi trao cho phụ nữ danh xưng "Phái yêu”, đây chính là sự thừa nhận những nhược điểm, sự yêu thé của người phụ nữ trong xã hội va là nguyên nhân chính dẫn tới việc PBĐX với phụ nữ.
Chống phan biệt doi xữ với phụ wit trong linh vực lao động, việc làm * Khái niệm phân biệt đối xứ Trong tiếng Việt, phân biệt đối xử được định nghĩa là “coi là khác nhan để có sự đối xứ không nur nhan “Š. Dinh nghĩa về mat ngôn ngữ này đã cho thây tính chủ quan, thiên kiên của việc PBDX. Các cuốn tir điền tiếng Anh của những nhà xuất bản * Viên ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ bin) (1994), Từ đến Tung Việt, NXB Khoa học zối hội- Trang tim từ điền hoc, tr. danh tiéng trên thê giới nhìn chung đưa ra nội dung định nghĩa từ “phân biệt đối xử" (discrimination) tương đôi giống nhau, ví dụ nly định nghĩa cho rằng đó là sự “đối xử khác biệt đối với một cá nhân hoặc một nhóm ngườinhất dinh, đặc biết là theo một cách không tốt bằng hay tôi tệ hơn đối xứ với những người khác vì màu da, giới tính xu hướng tinh due của ho,.
” hoặc con là “đinh kến chéng lại mét nhóm người. và là sự chỗi bỏ các quyền của ho’. Khái niệm “phan biệt đối xử" theo nghĩa thông thường là sự đối xử khác biệt theo cách bất công hoặc gây thiệt thời cho chủ thể này so với những chủ thé khác vì những lí do mang tính định kiên, kì thi, ghét bd “Nhìn chung phân biệt đối xứ có thé được đình ngiĩa là sự đối xử bắt công đối với ai đỏ dua trên việc có hay không có một đặc điểm nhất định, dua trên nên tảng văn hóa hay những khác biệt dé nhận thấy khác ”.