CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 1. Khái niệm quyền của phụ nữ và trẻ em 1.1 Khái niệm quyền của phụ nữ Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại và là lực lượng lao động quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Trải qua hàng trăm năm tranh đấu, ngày nay, quyền của phụ nữ đã được thừa nhận và trân trọng trên phạm vi thế giới. Nhiều tài liệu, văn kiện và văn bản pháp luật quốc tế đã xác định và đề cao quyền của phụ nữ, coi đó như là một trách nhiệm của văn minh thế giới.
Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 lần đầu tiên khẳng định sự bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và nam giới. Xét thấy, thông qua những Điều ước quốc tế đã phần nào khẳng định quyền lợi của phụ nữ ngày càng được đảm bảo. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 xác lập nguyên tắc nền tảng là tất cả mọi người đều được hưởng các quyền và tự do một cách bình đẳng, không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, quan điểm chính trị và các yếu tố khác (Điều 1 và Điều 2). Tiếp theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, nhiều điều ước quốc tế riêng đã được Liên Hợp Quốc thông qua nhằm bảo vệ các quyền của phụ nữ và trẻ em gái như: Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962… Nguyên tắc bình đẳng nam nữ cũng được khẳng định trong cả hai điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người năm 1966 là Công ước về các quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (ICESCR)… Là một nội dung cụ thể của quyền con người, quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với quyền con người.
Do đó, nếu hiểu theo 5 nghĩa rộng, quyền phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ quyền con người của phụ nữ. Đó là những quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai. Là quyền con người cụ thể, quyền phụ nữ cũng hàm chứa những đặc tính cơ bản của quyền con người đó là tính phổ quát, tính đặc thù và tính giai cấp. Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gắn liền với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là nhóm người dễ bị tổn thương.
Tiếp cận theo hướng này ( nghĩa hẹp) , quyền phụ nữ còn có thể hiểu là những quyền tất yếu, gắn liền với đặc điểm giới tính tự nhiên mà người phụ nữ phải được hưởng. Dưới góc độ pháp lý, quyền phụ nữ còn được hiểu là: tập hợp những khả năng pháp lý mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng.2 Khái niệm quyền của trẻ em Công ước về quyền trẻ em gồm 54 điều khoản trong đó nêu bật bốn nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt toàn bộ Công ước, bao gồm: - Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện tất cả các quyền trẻ em. - Trẻ em có quyền xác lập, thể hiện ý kiến riêng của mình và quyền đó phải được tôn trọng. - Dành những lợi ích đẹp nhất cho trẻ em.
- Những điều khoản trong Luật Quốc gia hoặc quốc tế có lợi hơn đối với trẻ em so với những điều khoản trong Công ước sẽ được áp dụng. Trên cơ sở những nguyên tắc trên, quyền trẻ em bao gồm 4 nhóm quyền: Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người. Bảo vệ quyền này của trẻ cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Các quyền này cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương.
Khi những nguy cơ đe doạ 6 quyền sống còn của trẻ như: gây ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử… Những nguy cơ đe doạ tới sự sống còn của trẻ em là rất nhiều và có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, cộng đồng và quốc gia nào, kể cả ngay tại gia đình. Tất cả chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo quyền được sống ở mức cao nhất có thể được. Nhóm quyền bảo vệ: Quyền được bảo vệ là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng. Nghiêm cấm lạm dụng trẻ em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ.
Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ. Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập và phát triển năng khiếu. Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền được lắng nghe và được kết giao hội họp. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã cụ thể hoá các nhóm quyền của trẻ em trong Công ước thành những quyền cụ thể sau: - Quyền được khai sinh và có quốc tịch - Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng - Quyền sống chung với cha mẹ 7 - Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự - Quyền được chăm sóc sức khoẻ - Quyền được học tập - Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch - Quyền được phát triển năng khiếu - Quyền có tài sản - Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. Như vậy, “quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hoá cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em. Đó là những đặc quyền tự nhiên của trẻ em được quy định trong pháp luật, đó là những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện”. Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những được hưởng các quyền mà còn trở thành chủ thể của chính các quyền đó.
Thực hiện pháp luật đảm bảo pháp lý về quyền trẻ em là một lĩnh vực hoạt động cụ thể, đặc thù của thực hiện pháp luật với các đặc điểm sau: Thứ nhất: Thực hiện pháp luật đảm bảo pháp lý về quyền trẻ em là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Để quản lý xã hội, nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực. Thứ hai: Thực hiện pháp luật đảm bảo pháp lý về quyền trẻ em là hành vi hợp pháp của các chủ thể. Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi của con người.
Hành vi đó có thể là hành động hay không hành động phù hợp với quy định của pháp luật. Nói cách khác, 8 tất cả những hoạt động của tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật đều được coi là thực hiện pháp luật. Thứ ba: Thực hiện pháp luật đảm bảo pháp lý về quyền trẻ em do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức, trình tự thủ tục khác nhau. Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.
Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể, cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước.2 Khái niệm bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em 1.1 Khái niệm bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ Chiếm hơn một nữa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi. Theo thống kê của Liên hợp quốc, phụ nữ chiếm đa số trong những người nghèo khổ của thế giới, trong tình trạng đó, phụ nữ luôn là người chịu nhiều thiệt thòi nhiều nhất về ăn uống, sức khỏe, giáo dục, đào tạo, cơ hội có việc làm và những nhu cầu khác; quyền được sống, tự do và an ninh cá nhân, kể cả quyền sống mạnh khỏe của người phụ nữ cũng thường xuyên bị vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau. Bởi vậy song song với việc ghi nhận quyền phụ nữ, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ cũng là một nội dung cần được tiếp cận và làm rõ. Trong khoa học pháp lý, khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ chưa được làm sáng tỏ một cách cụ thể mà được tiếp cận chủ yếu ở những cách thức và phương pháp bảo vệ nhất định.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để làm rõ về khái niệm này. Theo từ điển tiếng Việt, bảo vệ là sự chống lại mọi sự xâm phạm. Bởi vậy, nếu theo cách cắt nghĩa từ ngữ nói trên, có thể hiểu bảo vệ quyền phụ nữ là hành vi của một chủ thể nhất định nhằm chống lại mọi sự xâm phạm đến các quyền con người của phụ nữ được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận.