Chương 1 nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về Cơ chế bảo vệ quyền con người. Qua đó đi đến một số kết luận sau đây: Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Tiếp tục đưa ra những dẫn chứng, chứng minh quyền con người hiện nay còn đang bị đe dọa ở nhiều mặt. Việc xây đựng một cơ chế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là cần thiết.
Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là bộ máy chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục của pháp luật được ban hành ra nhằm bảo vệ và thúc đẩy 13 những quyền con người. Khẳng định tầm quan trọng của cơ chế thông qua vai trò của các tổ chức quốc tế quan trọng như Liên hợp quốc. 14 CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 2.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người Pháp luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, nhưng trong phạm vi khóa luận chủ yếu đề cập đến các điều ước quốc tế cốt lõi về vấn đề quyền con người. Một trong những thành tựu lớn nhất của Liên hợp quốc trong thế kỷ 20 là lần đầu tiên con người trong lịch sử của mình đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người chủ yếu gồm những điều ước (treaties) được thể hiện ở các hiến chương (charters), công ước(conventions, covenants).có giá trị pháp lý ràng buộc với các quốc gia thành viên (qua gia nhập hay phê chuẩn), cũng như các văn bản khác tuy không có giá trị pháp lý ràng buộc với những quốc gia thành viên song lại có giá trị và ý nghĩa rất lớn về đạo đức và xã hội 2.1 Hiến chương Liên hợp quốc Hiến chương Liên hợp quốc là văn kiện xác lập nền tảng của luật quốc tế về quyền con người.
Hiến chương có những quy định cụ thể về tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và việc làm này cũng là một trong những mục tiêu hoạt động của Liên hợp quốc - tổ chức liên chính phủ lớn và có quyền lực nhất trên thế giới. Ngay từ Lời nói đầu và các điều khoản, Hiến chương đã khẳng định vai trò và xác định mục tiêu của Liên hợp quốc về vấn đề quyền con người. Lời nói đầu của Hiến chương khẳng định ý chí của các dân tộc trong Liên hợp quốc: “.phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm hoạ chiến tranh.đã gây cho nhân loại những đau thương không kể xiết”, “. tin tưởng vào những quyền con người cơ bản, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào các quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ.” và bày tỏ quyết tâm của các dân tộc nhằm: “.thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn”11.
11 Các văn kiện quốc tế về quyền con người, sdd, tr. 15 Điều 1 của Hiến chương quy định các mục tiêu hoạt động của tổ chức này, theo đó, Liên hợp quốc theo đuổi các mục đích: (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.; (2) Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc; (3) Tăng cường sự hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế xã hội, văn hoá hoặc các vấn đề nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo. Như vậy, một trong ba mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc hướng trực tiếp vào vấn đề quyền con người. Ngoài ra, việc thực hiện hai mục tiêu khác cũng liên quan chặt chẽ tới vấn đề này.
Điều 3 kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo”. Một loạt điều khoản khác trong Hiến chương đã tái khẳng định và cụ thể hoá mục tiêu của Liên hợp quốc trên lĩnh vực quyền con người. Cụ thể, Điều 55 quy định: “Với mục đích nhằm tạo những điều kiện ổn định và hạnh phúc cần thiết để duy trì quan hệ hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, Liên hợp quốc sẽ thúc đẩy:. “(c) …sự tôn trọng và tuân thủ toàn cầu các quyền và tự do cơ bản của con người cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”.
Điều 56 nêu rõ: “Tất cả các quốc gia thành viên cam kết tiến hành các hành động chung hoặc riêng trong sự hợp tác với Liên hợp quốc để đạt được những mục tiêu quy định tại Điều 55”. Không chỉ quy định về mục tiêu, nhiều điều khoản trong Hiến chương còn thiết lập những nguyên tắc cơ bản về cơ cấu tổ chức, cách thức thực hiện mục tiêu của Liên hợp quốc về quyền con người. Tuy nhiên, Hiến chương cũng có những giới hạn nhất định và một trong số đó là chưa xác định cụ thể nghĩa vụ về quyền con người cho các quốc gia. Nhưng vẫn cần khẳng định rằng thông qua Hiến chương, lần đầu tiên quyền con người được thừa nhận như một giá trị phổ biến, và việc thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người được xác định là một trong các mục tiêu hoạt động của Liên hợp quốc.2 Bộ luật quốc tế về quyền con người Bộ luật quốc tế về quyền con người là thuật ngữ chỉ tập hợp ba văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, 16 1948 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, 1966 * Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR) Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên tập trung đề cập vấn đề quyền con người với 30 điều, tập hợp những quyền và tự do cụ thể, cơ bản của con người trên tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Ngay từ Lời nói đầu, UDHR đã xác định rõ: “…việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, sự bình đẳng và các quyền không thể tước bỏ của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình trên thế giới…” và đưa ra lời khẳng định rằng: “…Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội…” Ngoài việc là một nội dung có giá trị nên tảng, về mặt hình thức có thể thấy rằng UDHR không phải là một điều ước quốc tế nhưng đã dần hình thành tập quán quốc tế có giá trị ràng buộc với mọi quốc gia trên thế giới. * Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, 1966 (ICCPR) Theo các lĩnh vực của đời sống nhân loại, quyền con người thường được phân chia thành hai nhóm chính là nhóm các quyền dân sự chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Các nhà làm Luật cũng lựa chọn cách chia nhóm này để xây dựng hai công ước ICCPR VÀ ICESCR. ICCPR là điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị của mọi cá nhân trong cộng đồng nhân loại.
Sau khi UDHR ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người, ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa chúng, tức là đưa ra những chuẩn mực, quy phạm, quan trọng nhất về các quyền dân sự và chính trị. Cụ thể như Điều 5 UDHR nêu “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.” Nhưng đến ICCPR đã được cụ thể hóa tại Điều 7 “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.” Đến nay đã có hai Nghị định thư bổ sung cho ICCPR liên quan đến giải quyết khiếu nại cá nhân và bãi bỏ hình phạt tử hình. Ra đời cùng ICESCR vào năm 1966, ICCPR với 6 phần, 53 điều, đã đưa ra các quy định về nội hàm của các quyền dân sự và chính trị.
Các quyền trong công 17 ước có thể được phân chia thành hai nhóm, gồm nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền chính trị. Nhóm quyền dân sự quy định từ điều 6 đến điều 24 (trừ điều 21,22) về quyền sống(điều 6), quyền không bị tra tấn (điều 7), quyền tự do không bị buộc làm nô lệ hay nô dịch ( điều 8),.Nhóm các quyền chính trị qui đinh về quyền tự do hội họp (điều 21), quyền tự do lập hội (điều 22), quyền tham gia chính trị (điều 25) Và lưu ý việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối. Về cơ bản, chúng là các quyền thuộc về các cá nhân. Ngoài ra, có ba quyền có vị trí đặc biệt trong ICCPR, đó là: thứ nhất, quyền tự quyết (right of self-determination, Điều 1), do đây là một quyền tập thể thuộc về các dân tộc, có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tất cả các quyền con người khác; thứ hai, quyền bình đẳng (rights of non- discrimination, các Điều 2 (1), 3 và 26), do đây đồng thời là một nguyên tắc bao trùm, đ.i hỏi bảo đảm khi thực hiện các quyền con người; và cuối cùng, quyền của người thiểu số (rights of minorities, Điều 27), do đây là tập hợp một số quyền cá nhân thuộc về các nhóm.
Ngoài việc nêu lên tự do và các quyền thì ICCPR đưa ra vấn đề giới hạn áp dụng ngay trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn. Giới hạn áp dụng của một số quyền là quy định cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện, hưởng thụ một số quyền con người nhất định12.