CHƯƠNG I 13(1)), Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Điều 29(1,b)) và đặc biệt NHẬP MÔN LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT là trong Tuyên bố Viên và Chương trình hành động được thông qua tại VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai tổ chức tại Viên (Áo) năm 1993 (các đoạn 78-82). Bối cảnh, ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục và Để thúc đẩy giáo dục nhân quyền trên thế giới, Liên hợp quốc nghiên cứu quyền con người đã lấy giai đoạn 1995-2004 làm Thập kỷ Giáo dục Nhân quyền (United Nations Decade for Human Rights Education).3 Thêm vào Hiểu biết về quyền là điều kiện đầu tiên, không thể thiếu để có đó, năm 1978, Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên hợp quốc thể bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thực tiễn một cách (UNESCO) đã thiết lập Giải thưởng Giáo dục Quyền con người hiệu quả. Mọi tri thức về các phương diện pháp lý, triết học, văn hóa, (Prize for Human Rights Education) trao cho các cá nhân, tổ chức có xã hội. của các quyền và tự do cơ bản đều rất cần thiết cho việc hiện đóng góp lớn trong việc truyền bá kiến thức, thúc đẩy giáo dục và thực hóa các quyền.
nghiên cứu về quyền con người (gần đây, giải thưởng này được đổi Tuy nhiên, có một thực trạng phổ biến đáng buồn đó là “có tên thành Giải thưởng cho việc Thúc đẩy một Nền văn hóa Quyền hàng triệu người sinh ra rồi chết đi mà không hề biết rằng họ là chủ con người (Prize for the Promotion of a Culture of Human Rights)).4 thể của các quyền con người…”.1 Thực trạng đó chỉ có thể khắc Mặc dù không có định nghĩa chung, song qua các văn kiện quốc phục được thông qua giáo dục nâng cao nhận thức của mọi người về tế kể trên, có thể hiểu giáo dục quyền con người (human rights quyền con người.2 Cũng như bất kỳ dạng kiến thức nào khác của loài education) theo nghĩa rộng, đó là những hoạt động giảng dạy, tập người, tri thức về quyền con người chỉ có thể được phổ biến và tiếp huấn và phổ biến thông tin về quyền con người.1 nhận thông qua các hình thức giáo dục. Chính bởi tầm quan trọng và 5 vai trò của giáo dục trong việc phổ biến tri thức về quyền con người, Cũng như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, việc trở thành trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Liên thành viên của Liên hợp quốc và của các công ước quốc tế về quyền hợp quốc đã khẳng định rằng, một trong các mục tiêu của giáo dục là con người đặt ra nghĩa vụ cho Việt Nam trong việc thực hiện các phải nhằm: “…thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con cam kết quốc tế trên lĩnh vực này, trong đó có nghĩa vụ về giáo dục, người” (Điều 26(2)). Bên cạnh đó, giáo dục quyền con người còn được phổ biến quyền con người. Để thực hiện cam kết này, trên thực tế, đề cao trong nhiều văn kiện quốc tế khác của Liên hợp quốc như Công các quyền con người đã được giảng dạy thông qua nhiều môn học, ở nhiều cấp học tại Việt Nam, đặc biệt kể từ Đổi mới (1986) đến nay.
1 Wolfgang Benedek (Chủ biên), Tìm hiểu về quyền con người, NXB Tư pháp, 2008, tr. 2 3 Xem thêm Vũ Thị Minh Chi, Ý thức về quyền con người trong việc xây dựng một xã hội Nguồn: http://www2.org/english/issues/education/training/decade.htm 4 lành mạnh, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5(26), 2006, tr.27-36; Vũ Minh Chi, Nguyễn Nguồn: http://www. 1 Anh Đào, Giáo dục quyền con người là giáo dục tính chủ thể đối với quyền. Tạp chí Nghiên Nghị quyết A/52/469 ngày 20-10-1997 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, đoạn 11, tại cứu con người, số 5(38), 2008, tr.
13 27 13 28 Cụ thể, ở các cấp phổ thông, một số nguyên tắc và tiêu chuẩn về thế giới về quyền con người năm 1948. Theo José Ayala Lasso, Cao quyền con người trong luật quốc tế đã được lồng ghép vào các môn ủy đầu tiên về quyền con người của Liên hợp quốc: “ Việc xây dựng học Đạo đức (cấp tiểu học) và Giáo dục công dân (các cấp trung học một nền văn hóa nhân quyền trên thế giới là một trong những đóng cơ sở và trung học phổ thông). Trong giáo dục bậc cao, vấn đề quyền góp quan trọng nhất cho các thế hệ tương lai.Một nền văn hóa như con người hiện đã được nghiên cứu, giảng dạy ở một số trường đại vậy sẽ khiến quyền con người trở nên quan trọng trong đời sống của học chuyên ngành luật, khoa học chính trị, quan hệ quốc tế. với các cá nhân giống như là ngôn ngữ, tập quán, nghệ thuật, tín mức độ khác nhau.
Trong nền văn hóa này, các quyền con người không chỉ được nhìn như là công việc “của người nào khác”, mà chính là nghĩa Trong những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy vụ và trách nhiệm của tất cả mọi người.”18 về quyền con người ở Việt Nam đang phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và bề sâu. Hiện tại, Bộ Giáo dục-Đào tạo đang nghiên Về những mục tiêu cụ thể, theo Liên hợp quốc, giáo dục quyền cứu xây dựng chương trình giáo dục về quyền con người trong hệ con người cần hướng vào việc29: thống giáo dục quốc dân; còn ở giáo dục bậc cao, ngày càng có thêm (i) Tăng cường sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con nhiều trường đại học, viện nghiên cứu đưa vào triển khai các chương người; trình, hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người dưới (ii) Phát triển đầy đủ nhân phẩm và ý thức về nhân phẩm của nhiều hình thức tổ chức và nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Sự phát con người; triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong việc (iii) Thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung, bình đẳng giới và tình tìm hiểu về quyền con người, xuất phát từ thực tế là vấn đề quyền hữu nghị giữa các quốc gia, các nhóm dân tộc, chủng tộc, con người đang được ứng dụng và có ảnh hưởng ngày càng lớn đến tôn giáo và ngôn ngữ; nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội của Việt Nam. (iv) Tạo điều kiện cho tất cả mọi người tham gia một cách hiệu 1.
Mục tiêu của môn học quả vào các hoạt động của xã hội, và Về cơ bản, mục tiêu của môn học này trùng hợp với mục tiêu về (v) Hỗ trợ các hoạt động của Liên hợp quốc về duy trì hòa bình giáo dục quyền con người do Liên hợp quốc xác định, trong đó mục và an ninh quốc tế. đích cuối cùng của giáo dục về quyền con người, dù được tiến hành Như vậy, thông qua việc cung cấp các kiến thức lý luận và pháp ở bất cứ đâu, do bất cứ chủ thể nào, cũng nhằm để xây dựng một nền lý về quyền con người, môn học này góp phần thay đổi nhận thức, văn hóa nhân quyền (human rights culture)27 mà nền tảng của nó hành vi của các chủ thể trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con chính là những nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn người của bản thân và của người khác. Thêm vào đó, môn học này 1 Xem Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Khái quát về giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay (Kỷ yếu Hội thảo Kết nối nghiên cứu về quyền con người do Bộ Ngoại giao tổ 1 chức ngày 4-8-2008). SGI Quarterly, http://www.org/feature2008Oct-1.html 2 2 Nghị quyết A/52/469, tài liệu đã dẫn, đoạn 11.
Nghị quyết A/52/469, đoạn 11. 14 29 14 30 cũng góp phần hình thành ý thức trách nhiệm của người học với sự chuyên ngành khoa học xã hội nhưng có những đặc thù nhất định khi sự tồn tại và phát triển hòa bình của cộng đồng, dân tộc mình và toàn áp dụng. nhân loại, thông qua việc phổ biến những giá trị bình đẳng, khoan Cụ thể, môn học này áp dụng các phương pháp luận của triết dung, nhân đạo, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa học biện chứng duy vật (phương pháp luận nền tảng của các bộ môn các quốc gia, dân tộc, chủng tộc và các nhóm xã hội. khoa học xã hội ở Việt Nam).
Theo triết học biện chứng duy vật, 1. Đối tượng và nội dung của môn học cũng như các sự vật, hiện tượng khác, nhận thức, lý luận và pháp Về đối tượng, môn học này tập trung nghiên cứu những vấn đề luật về quyền con người được hình thành và phát triển theo một quá lý luận, pháp lý và thực tiễn về các quyền và việc bảo vệ, thúc đẩy trình từ thấp đến cao, gắn liền và tương ứng với quá trình phát triển các quyền con người, cả ở phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. lịch sử về chính trị, kinh tế, xã hội của loài người. Vận dụng phương pháp luận triết học biện chứng duy vật đòi hỏi xem xét và đánh giá Về nội dung, giống như nhiều chương trình giảng dạy về quyền các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền con người một cách con người đang được thực hiện trên thế giới, môn học này đề cập khách quan, toàn diện, gắn với những bối cảnh lịch sử cụ thể.
Liên đến những vấn đề cơ bản như sau: quan đến vấn đề này, một số công trình của các nhà kinh điển của - Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền con người; chủ nghĩa Mác-Lênin như Bàn về vấn đề Do Thái (1843) của Các - Lịch sử phát triển của tư tưởng về quyền con người; Mác, Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh vào năm 1844 (1844) của Ăngghen… có thể coi là những hình mẫu trong việc vận dụng - Các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) về phương pháp luận triết học biện chứng duy vật khi đề cập đến vấn đề quyền con người; quyền con người.