Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1. Quan niệm về bán phá giá và chống bán phá giá 1. Khái niệm bán phá giá * Dưới góc độ ngôn ngữ Theo cách hiểu thông thường, bán phá giá là bán dưới giá thị trường. Chẳng hạn như tại một nhà ga ai cũng bán đĩa cơm sườn với giá 5.000 đồng bỗng nhiên có người bán với giá 3.000 đồng, thì hành động đó bị coi là bán phá giá [16].
Theo từ điển tiếng Việt trực tuyến, phiên bản ngày 18/3/2004 của Trung tâm Từ điển học Việt Nam thì: “Bán phá giá là việc bán ồ ạt với giá thấp hơn giá thị trường, thậm chí chịu lỗ, để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường” [32, tr. Như vậy, giữa hai cách hiểu về bán phá giá như trên có những nét tương đồng đó là việc bán dưới – thấp hơn giá thị trường. Tuy nhiên, cách hiểu thứ nhất không quan tâm đến mục đích của việc bán phá giá là gì, có nhằm mục đích chiếm đoạt thị trường hay không, vì vậy, coi hành động đó là bán phá giá và chê trách hành động đó là chưa hẳn đã chính xác, thậm chí là sai. Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, cứ giá nào có người mua thì người ta có quyền bán, hơn nữa có thể hàng hóa của họ là hàng hóa dư thừa, tồn kho, mất mốt hoặc có nhu cầu quay vòng vốn nhanh,… nên cần phải bán dưới giá thị trường để tiêu thụ được hàng hóa.
Tuy nhiên, định nghĩa thuật ngữ bán phá giá của Từ điển tiếng Việt trực tuyến không chỉ quan tâm đến hiện tượng bán dưới giá thị trường mà lại chú trọng đến cả mục đích của hành động bán dưới giá thị trường đó là để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường. Như vậy, theo định nghĩa này, bán phá giá rõ ràng là 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cần phải ngăn chặn, nếu muốn duy trì sự ổn định của thị trường và môi trường kinh doanh. Trong tiếng Anh, bán phá giá được dịch ra từ thuật ngữ “Dumping” [18, tr. Tuy nhiên thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, chẳng hạn theo nghĩa thông thường dumping có nghĩa là vứt bỏ thứ gì đó mà bạn không thích (to get rid of something you do not want), còn theo nghĩa chuyên ngành thương mại thì dumping có nghĩa là bán tống một món hàng với mức giá rất thấp, thường là bán sang nước khác (To get rid of goods by selling them at a very low prince, often in another country).
Như vậy, theo định nghĩa huật ngữ dumping được hiểu là bán phá giá và để xác định có hay không có hành động bán phá giá người ta quan tâm đến mức giá bán hàng và thường là có sự so sánh giá giữa các thị trường quốc gia khác nhau. Trong tiếng Pháp, bán phá giá được dịch ra từ thuật ngữ “dumping commercial” [32, tr. Đây là hiện tượng thương mại khi bán hàng hóa ở thị trường nước ngoài với mức giá thấp hơn mức hiện tại của thị trường trong nước. Với cách hiểu này thì bán phá giá là sự phân biệt giá cả giữa thị trường quốc gia khác nhau, theo đó nếu giá bán một món hàng X nào đó tại thị trường trong nước cao hơn giá bán món hàng X đó tại thị trường nước ngoài thì hành động đó bị coi là bán phá giá.
Như vậy, qua khảo cứu cách hiểu thông thường của một số ngôn ngữ khác nhau về thuật ngữ bán phá giá, cho thấy, các cách hiểu này đều chưa phản ánh đầy đủ, nhưng đã nói lên phần nào dấu hiệu đặc trưng của bán phá giá. Đó là hiện tượng bán hàng thường là bán ra nước ngoài, với một mức giá rất thấp, nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường. * Dưới góc độ pháp lý Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là sự phân biệt giá cả giữa các thị trường quốc gia [26, tr. Với cách hiểu này thì bán phá giá có 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể xẩy ra các tình huống khác nhau, có thể là: người sản xuất / người xuất khẩu bán hàng hóa của mình tại thị trường trong nước với giá thấp hơn giá bán hàng hóa đó ở thị trường nước ngoài; hoặc người sản xuất / người xuất khẩu bán hàng hóa của mình với mức giá khác nhau ở các thị trường nước ngoài khác nhau.
Như vậy, điểm mấu chốt của cách hiểu này là sự phân biệt giá cả của cùng một hàng hóa ở các thị trường quốc gia khác nhau, bất luận là cao hơn hay thấp hơn được tính ở mỗi thị trường. Tuy nhiên, trong các tình huống có thể xẩy ra như đã phan tích ở trên, thì thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế đã chứng minh rằng chỉ có cách hiểu thứ hai đó là hàng hóa được bán ở thị trường trong nước với mức giá cao hơn mức giá bán ở thị trường nước ngoài thì mới có thể gây tổn hại đối với nước nhập khẩu, nhất là đối với các nhà sản xuất các hàng hóa tương tự ở nước nhập khẩu. Do đó, hành động bán phá giá này mới cần phải ngăn chặn. Với cách tiếp cận này thì bán phá giá có thể được hiểu như sau: Bán phá giá là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế, trong đó giá của một hàng hóa khi được bán tại thị trường của nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị của hàng hóa đó được bán tại thị trường của nước xuất khẩu.
Cách hiểu trên phù hợp với cách hiểu về bán phá giá của WTO. Theo Điều 2, Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994 thì: một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Theo định nghĩa trên, bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán ở một nước khác với mức GXK thấp hơn GTTT của sản phẩm đó khi được bán ở trong nước. Thí dụ, người sản xuất vải ở Trung Quốc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bán vải lụa ở thị trường Trung Quốc với giá 20 USD/mét, nếu người đó xuất khẩu vải cùng loại sang thị trường Việt Nam và bán với giá 10 USD/mét, thì người đó đã hành dộng bán phá giá.
Như vậy, trong thương mại quốc tế, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự phân biệt về giá, khi GXK thấp hơn GTTT của sản phẩm đó ở trong nước xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định hiện tượng bán phá giá là một vấn đề vô cùng phức tạp. Ở Việt Nam, thuật ngữ bán phá giá lần đầu tiên xuất hiện trong Luật thuế nhập khẩu 1993 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998), nhưng tại Luật này, thuật ngữ bán phá giá chưa được định nghĩa chi tiết, phải đến pháp luyện giá năm 2002, thuật ngữ bán phá giá mới chính thức được định nghĩa chi tiết như sau: bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích của nhà nước (Khoản 3, Điều 4). Tuy nhiên, định nghĩa bán phá giá này chỉ đề cập đến hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước được bán phá giá ở thị trường trong nước – phá giá nội địa, chứ hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá thì Pháp lệnh này không điều chỉnh.
Hiện nay, vấn đề này đã chính thức được quy định tại Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 (PLAD), nhưng PLAD này không trực tiếp định nghĩa thế nào là bán phá giá mà chỉ đưa ra cách xác định hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam như sau: Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường và định nghĩa về biên độ bán phá giá là: khoảng cách chênh lệch có thể tính toán được giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào Việt Nam. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, bán phá giá theo Pháp lệnh này được hiểu là hiện tượng khi giá xuất khẩu một hàng hóa nào đó vào Việt Nam thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó. Nhìn chung cách hiểu này là tương đồng với cách hiểu về bán phá giá trong thương mại quốc tế. Bản chất của việc bán phá giá Khái niệm bán phá giá ngày càng được hoàn thiện như đã phân tích ở trên, tuy nhiên, vấn đề mấu chốt có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là cần phải xác định khi nào thì hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó là hành vi bình thường về mặt kinh tế cũng như việc chống hay không chống hành vi đó sẽ gây ra những tác động như thế nào đối với môi trường kinh doanh, lợi ích của toàn xã hội và của mỗi người tiêu dùng.
Tìm hiểu bản chất của việc bán phá giá sẽ lý giải được những vấn đề nói trên. * Bán phá giá là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế Phân biệt giá cả mang tính quốc tể xẩy ra khi thị trường bị phân biệt là thị trường của các nước khác nhau. Theo đó, GXK của hàng hóa thường phải cao hơn so với giá của hàng hóa tại thị trường nội địa vì sản xuất / nhà xuất khẩu phải chịu thêm chi phí xuất khẩu như vận chuyển đến cảng / sân bay / nhà ga; chi phí bảo hiểm cho hàng hóa,. Do đó, đúng ra là họ phải bán hàng hóa tại thị trường của nước nhập khẩu cao hơn so với giá bán hàng hóa đó tại thị trường của nước xuất khẩu.