Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập quốc tế, các giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại tại Việt Nam phát triển nhanh chóng về cả số lượng lẫn quy mô. Giao dịch dân sự đóng vai trò là công cụ pháp lý chủ đạo để các cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng và sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả pháp lý phát sinh là vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nhiều tranh chấp kéo dài.

Thực tế xuất hiện tình trạng một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch hoàn toàn thiện chí, ngay thẳng, trung thực và tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý nhưng không biết hoặc không thể biết tài sản giao dịch bắt nguồn từ một giao dịch vô hiệu trước đó. Các chủ thể này được xác định là người thứ ba ngay tình. Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình thường làm nảy sinh sự xung đột lợi ích gay gắt với quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu ban đầu. Do đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử nhằm tìm ra vướng mắc, bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu; đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng tại Tòa án để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
  2. Phân tích, nghiên cứu các trường hợp thực tiễn, cụ thể là các tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu qua các bản án xét xử.
  3. Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu và thực tiễn giải quyết tranh chấp thông qua một số bản án cụ thể.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật từ thời điểm Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 đến năm 2024.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Cơ sở lý luận: Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm quyền công dân, quyền sở hữu và trật tự giao lưu dân sự.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 11, 101, 116, 117, 122, 123, 131, 133, 165, 167, 168, 180, 184, 236), Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 138, 189, 247), Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 147) và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Quy định của Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1994 (Điều 301, Điều 302), Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức (về hệ quả đăng ký bất động sản sai và bảo vệ người mua ngay tình), Bộ luật Dân sự Nhật Bản (về bảo vệ bên thứ ba khi hợp đồng trước bị hủy bỏ do lừa dối).

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học, bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử (theo dõi sự phát triển quy định qua các thời kỳ BLDS 1995, 2005, 2015).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu (đối chiếu giữa các văn bản pháp luật trong nước và luật nước ngoài).
  • Phương pháp khảo sát, thống kê và phương pháp chuyên gia.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống/nghiên cứu hồ sơ án (case study) dựa trên các bản án thực tế đã tuyên.

Nguồn dữ liệu: Các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách bình luận khoa học (TS. Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Thế Liên, Tưởng Duy Lượng, Vũ Thị Hồng Yên...), các bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và các bản án thực tế đã có hiệu lực pháp luật công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng về giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực, định nghĩa và bản chất pháp lý của người thứ ba ngay tình.

  • Giao dịch dân sự và điều kiện vô hiệu: Căn cứ Điều 116 BLDS 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch vô hiệu khi vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều 117 BLDS 2015: chủ thể không có năng lực pháp luật/năng lực hành vi phù hợp; chủ thể không tự nguyện; mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; vi phạm quy định bắt buộc về hình thức.
  • Khái niệm và đặc điểm của người thứ ba ngay tình: Tác giả chỉ ra rằng Điều 180 BLDS 2015 định nghĩa chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu (kế thừa Điều 189 BLDS 2005 về trạng thái "không biết và không thể biết"). Người thứ ba ngay tình là chủ thể xác lập giao dịch với người đang chiếm giữ tài sản bắt nguồn từ một giao dịch vô hiệu trước đó, nhưng bản thân họ hoàn toàn tin tưởng rằng đối tác của mình có quyền định đoạt hợp pháp.
  • Phân biệt người chiếm hữu ngay tình và người thứ ba ngay tình: Bản chất của người thứ ba ngay tình được biểu diễn qua cấu trúc mối quan hệ hai tầng:
    • Mối quan hệ 1 (MQH1): Giao dịch ban đầu giữa chủ sở hữu và người trung gian (bị vô hiệu) hoặc quan hệ bất hợp pháp làm tài sản rời khỏi chủ sở hữu.
    • Mối quan hệ 2 (MQH2): Giao dịch chuyển giao tài sản giữa người trung gian với người thứ ba. Người thứ ba ngay tình là người chiếm hữu ngay tình xuất hiện ở MQH2 thông qua chủ thể trung gian. Do đó, người thứ ba ngay tình là người chiếm hữu ngay tình, nhưng không phải mọi người chiếm hữu ngay tình đều là người thứ ba ngay tình.
Tiêu chí Người chiếm hữu ngay tình Người thứ ba ngay tình trong giao dịch
Căn cứ pháp lý Điều 180, Điều 184, Điều 236 BLDS 2015 Điều 133, Điều 167, Điều 168 BLDS 2015
Bản chất xác lập Có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản (nhặt được, mua nhầm tài sản trộm cắp, nhận chuyển giao sai thẩm quyền). Xác lập giao dịch nhận tài sản từ một bên trung gian mà giao dịch trước đó giữa bên trung gian và chủ sở hữu bị vô hiệu.
Cấu trúc quan hệ Quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với tài sản không có căn cứ pháp luật. Quan hệ bắc cầu 2 tầng (MQH1 vô hiệu, MQH2 xác lập có đền bù/ngay tình).
Hệ quả pháp lý Áp dụng thời hiệu hưởng quyền (10 năm động sản, 30 năm bất động sản theo Điều 236), hưởng hoa lợi, lợi tức. Được công nhận giao dịch có hiệu lực trong các điều kiện luật định (Điều 133); không bị đòi lại tài sản nếu đủ điều kiện.
  • Sự cần thiết và ý nghĩa của việc bảo vệ: (1) Bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ thể thiện chí; (2) Bảo đảm an toàn pháp lý, duy trì sự ổn định của trật tự lưu thông dân sự, tránh tâm lý hoang mang, e dè của người tham gia thị trường; (3) Hạn chế tranh chấp kéo dài và cân bằng quyền đòi tài sản của chủ sở hữu với lợi ích chung của xã hội.
  • Pháp luật nước ngoài: BLDS Nga năm 1994 (Điều 301, 302) quy định người ngay tình qua giao dịch có đền bù không phải trả lại tài sản (trừ trường hợp tài sản bị lấy cắp, đánh rơi ngoài ý chí), tiền và giấy tờ có giá được bảo vệ tuyệt đối. BLDS Đức quy định khi bất động sản đăng ký sai mà chuyển nhượng cho bên thứ ba ngay tình thì giao dịch có hiệu lực, chủ sở hữu chỉ được kiện người đăng ký sai để đòi bồi thường giá trị. BLDS Nhật Bản cũng ưu tiên bảo vệ người thứ ba ngay tình và buộc bên lừa dối phải bồi thường cho chủ sở hữu ban đầu.

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm của BLDS 2015 điều chỉnh cơ chế bảo vệ, điều kiện và phương thức bảo vệ người thứ ba ngay tình.

  • Nội dung Điều 133 BLDS 2015: Phân chia bảo vệ theo hai nhóm tài sản:
    • Động sản không phải đăng ký quyền sở hữu (Khoản 1 Điều 133): Giao dịch với người thứ ba ngay tình vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp chủ sở hữu đòi lại theo Điều 167 (khi chuyển giao qua hợp đồng không có đền bù, hoặc tài sản bị lấy cắp, bị mất, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu trong hợp đồng có đền bù).
    • Bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu (Khoản 2 Điều 133): Nếu tài sản đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền rồi mới chuyển giao cho người thứ ba ngay tình căn cứ vào đăng ký đó thì giao dịch không bị vô hiệu. Trường hợp chưa đăng ký mà giao dịch với người thứ ba thì vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba nhận tài sản qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người là chủ sở hữu theo bản án, quyết định nhưng sau đó bản án, quyết định bị hủy, sửa.
  • Điều kiện bảo vệ:
    • Ý chí của người thứ ba: Phải hoàn toàn ngay tình, thiện chí, trung thực; không biết và không thể biết về tình trạng vô hiệu của giao dịch trước đó. Đối với tài sản có đăng ký, người thứ ba đã tin tưởng vào giấy tờ đăng ký cấp bởi cơ quan nhà nước mà người bình thường không thể phát hiện sai sót hay giả mạo tinh vi.
    • Đối tượng giao dịch: Khắc phục hạn chế của Điều 147 BLDS 1995 (vốn không phân loại tài sản đăng ký và không đăng ký), BLDS 2015 phân định rõ cơ chế bảo vệ tùy thuộc vào tính chất tài sản.
    • Cân bằng xung đột lợi ích: Khoản 3 Điều 133 khẳng định chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản nếu giao dịch với người thứ ba ngay tình có hiệu lực, nhưng được quyền khởi kiện yêu cầu chủ thể có lỗi hoàn trả chi phí và bồi thường thiệt hại.
  • Phương thức bảo vệ và quyền, nghĩa vụ tố tụng:
    • Áp dụng các phương thức bảo vệ quyền dân sự chung theo Điều 11 BLDS 2015.
    • Theo BLTTDS 2015, người thứ ba ngay tình tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bị đơn (do các đương sự khác yêu cầu, Tòa án triệu tập hoặc bản thân họ chủ động yêu cầu).
    • Hậu quả pháp lý quy định tại Điều 131 BLDS 2015: Giao dịch vô hiệu khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận bằng hiện vật hoặc trị giá bằng tiền; bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả.

Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu và đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật

Chương này phân tích các án lệ, bản án điển hình để nhận diện bất cập và đưa ra 4 nhóm kiến nghị cụ thể.

Phân tích thực tiễn xét xử qua các vụ việc:

  • Bản án số 328/2020/DS-PT (11/9/2020) của TAND tỉnh Long An: Vụ án tranh chấp đòi quyền sử dụng đất tại thửa 075 và 976 (tổng diện tích trên giấy 3.532m2, thực tế 2.536,7m2) giữa nguyên đơn ông N với vợ chồng ông L - bà R và bà C. Cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng cho ông N là người thứ ba ngay tình căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cấp phúc thẩm sau đó đã chấp nhận kháng cáo của ông L - bà R, sửa một phần bản án sơ thẩm do liên quan đến tính vô hiệu của hợp đồng ủy quyền và chuyển nhượng trước đó.
  • Bản án số 128/2019/DS-PT (13/5/2019) của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 387m2 tại thửa 44, tờ bản đồ số 5. Ông Lê Minh H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 769121 ngày 12/5/2009 và thế chấp cho Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh Đắk Lắk. Tòa án nhận định Ngân hàng không thể biết và không có nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đã cấp đúng thẩm quyền, do đó Ngân hàng là "người thứ ba ngay tình" và hợp đồng thế chấp không bị vô hiệu.
  • Vụ án Hứa Thị Phấn - VNECO: Bị cáo chuyển 200 tỷ đồng (trong tổng số 400 tỷ đồng hoàn trả theo Biên bản thanh lý hợp đồng hợp tác đầu tư số 1001/TLHD/VNECO-NKH ngày 30/6/2010 của dự án Bình Điền) cho VNECO. Tòa án xác định 200 tỷ đồng là vật chứng vụ án và thu hồi trả cho Ngân hàng Xây dựng (CB). VNECO cho rằng mình là người thứ ba ngay tình nhận tiền từ giao dịch có đền bù hợp pháp, công khai qua tài khoản ngân hàng và không thể biết nguồn gốc tiền phạm tội, cho thấy vướng mắc lớn trong việc xác định bên ngay tình khi tài sản là vật chứng vụ án hình sự.

Các bất cập trong quy định pháp luật hiện hành:

  1. Thiếu định nghĩa pháp lý rõ ràng về "người thứ ba ngay tình": BLDS 2015 bỏ quy định Điều 189 BLDS 2005 và chỉ có Điều 180 quy định chiếm hữu ngay tình, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong nhận thức giữa lý luận và thực tiễn xét xử của các cấp Tòa án.
  2. Sự hạn hẹp của thuật ngữ "chuyển giao" tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015: Thuật ngữ này thường bị hiểu hẹp là chuyển quyền sở hữu/sử dụng (mua bán, tặng cho). Đối với các giao dịch mang tính chất "đăng ký" như thế chấp, cầm cố (biện pháp bảo đảm), việc có bảo vệ bên nhận thế chấp ngay tình hay không còn gây nhiều tranh cãi.
  3. Bất cập về "chủ thể có lỗi" và chủ thể bị thiệt hại tại khoản 3 Điều 133 BLDS 2015: Luật chỉ quy định "chủ sở hữu" mà bỏ sót "chủ sử dụng" (đặc biệt là chủ sử dụng đất - loại tài sản phổ biến có giá trị lớn). Bên cạnh đó, khái niệm chủ thể có lỗi chưa xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan thứ ba như tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, cơ quan đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận sai.
  4. Khoảng trống pháp lý trong bảo vệ người mua tài sản qua bán đấu giá và hiệu lực bản án: Chưa có quy định rõ ràng để bảo vệ người thứ ba ngay tình mua tài sản trúng đấu giá khi tổ chức bán đấu giá vi phạm quy trình thủ tục mà người mua không có lỗi. Ngoài ra, đoạn 2 khoản 2 Điều 133 chưa nêu rõ cụm từ "bản án, quyết định" là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định bảo vệ người thứ ba ngay tình, phân định rõ ranh giới pháp lý giữa người chiếm hữu ngay tình và người thứ ba ngay tình qua mô hình quan hệ hai tầng.
  • Phân tích chi tiết thực tiễn xét xử qua các vụ án dân sự và hình sự phức tạp (Bản án 328/2020/DS-PT, Bản án 128/2019/DS-PT, vụ án Hứa Thị Phấn - VNECO), chỉ ra sự thiếu nhất quán trong áp dụng khoản 2 Điều 133 đối với giao dịch thế chấp và thu hồi tiền là vật chứng.

Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật của tác giả:

STT Vấn đề bất cập Nội dung kiến nghị hoàn thiện cụ thể
1 Áp dụng luật không thống nhất giữa các Tòa án Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất cách hiểu và đường lối xét xử về người thứ ba ngay tình.
2 Rủi ro thủ tục bán đấu giá tài sản Sửa đổi BLDS 2015 hoặc ban hành văn bản hướng dẫn: Công nhận hiệu lực giao dịch của người thứ ba ngay tình mua tài sản qua đấu giá nếu vi phạm thủ tục đấu giá không xuất phát từ lỗi của người mua.
3 Xác định chủ thể có lỗi và chủ thể có quyền khởi kiện (Khoản 3 Điều 133) - Bổ sung "chủ sử dụng" bên cạnh "chủ sở hữu" có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Hướng dẫn rõ "chủ thể có lỗi" bao gồm cả tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng sai sót để nâng cao trách nhiệm quản lý.
4 Phạm vi giao dịch được bảo vệ (Khoản 2 Điều 133) Sửa đổi đoạn 1 khoản 2 Điều 133 BLDS 2015: Thay cụm từ "chuyển giao" thành cụm từ "chuyển giao hoặc đăng ký" để bao quát các giao dịch bảo đảm (thế chấp, cầm cố); đồng thời quy định rõ bản án, quyết định của cơ quan nhà nước phải là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Đóng góp của đề tài: Tác giả đã kết hợp phân tích đối chiếu quy phạm lý thuyết với các vụ án thực tiễn cụ thể phát sinh từ năm 2017 đến nay, chỉ ra những khoảng trống lập pháp trong BLDS 2015 chưa được các nghiên cứu trước xử lý triệt để (như tính chất giao dịch bảo đảm thế chấp trong Điều 133 và trách nhiệm của cơ quan công chứng, đăng ký quyền tài sản).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và tính chất phức tạp, đan xen giữa nhiều ngành luật (luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật đất đai và pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến xử lý vật chứng). Nguồn án lệ và bản án phân tích tập trung ở một số vụ việc điển hình đã công bố trong giai đoạn áp dụng BLDS 2015.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn tại nhiều cấp Tòa án trên phạm vi toàn quốc; đi sâu nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại liên đới của cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất và tổ chức công chứng; giải quyết thấu đáo xung đột pháp lý giữa bảo vệ người thứ ba ngay tình trong luật dân sự với quy định thu hồi tài sản, vật chứng trong luật tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; giảng viên giảng dạy các học phần Luật Dân sự; thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, công chứng viên và cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần so sánh lý luận giữa người chiếm hữu ngay tình và người thứ ba ngay tình ở Chương 1.
    • Phần phân tích các vụ việc thực tiễn (vụ án tranh chấp thế chấp ngân hàng tại Đắk Lắk và vụ án thu hồi tiền chuyển giao tại dự án Bình Điền) ở Chương 3.
    • Đề xuất cụ thể sửa đổi văn bản luật đối với khoản 2 và khoản 3 Điều 133 BLDS 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật Dân sự năm 2015 có định nghĩa trực tiếp khái niệm "người thứ ba ngay tình" không? Không. BLDS 2015 không đưa ra điều khoản định nghĩa riêng thế nào là "người thứ ba ngay tình", mà chỉ quy định về "chiếm hữu ngay tình" tại Điều 180 và quy định các trường hợp bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu tại Điều 133, Điều 167 và Điều 168.

2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân hàng có được xem là giao dịch được bảo vệ theo khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 hay không? Thực tiễn xét xử (như Bản án số 128/2019/DS-PT của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng) đã công nhận hợp đồng thế chấp tài sản của ngân hàng ngay tình là giao dịch hợp pháp và được bảo vệ theo khoản 2 Điều 133 BLDS 2015. Tác giả đồng tình với nhận định này và kiến nghị sửa luật để công nhận rõ ràng cả các giao dịch mang tính chất "đăng ký" (như thế chấp, bảo đảm).

3. Tại sao tác giả đề xuất thay đổi cụm từ "chuyển giao" thành "chuyển giao hoặc đăng ký" tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015? Vì thuật ngữ "chuyển giao" thường bị hiểu hẹp là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như mua bán, tặng cho). Việc bổ sung từ "đăng ký" nhằm đảm bảo các giao dịch bảo đảm có đăng ký (như thế chấp, cầm cố) cũng thuộc diện được pháp luật bảo vệ đầy đủ, tạo sự bình đẳng và an toàn cho các bên tham gia giao dịch.

4. Khi tài sản đã chuyển cho người thứ ba ngay tình hợp pháp, chủ sở hữu ban đầu được bảo vệ quyền lợi bằng cách nào? Theo khoản 3 Điều 133 BLDS 2015, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nhưng có quyền khởi kiện yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc xác lập giao dịch với người thứ ba phải hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh.

5. Đối với tài sản là tiền và giấy tờ có giá, pháp luật Liên bang Nga và tranh luận trong thực tiễn Việt Nam được đề cập như thế nào? Theo khoản 3 Điều 302 BLDS Liên bang Nga năm 1994, người chiếm hữu ngay tình đối với tiền và giấy tờ có giá không phải trả lại tài sản cho người có quyền sở hữu ban đầu trong mọi trường hợp. Tại Việt Nam, qua vụ án Hứa Thị Phấn - VNECO, việc Tòa án thu hồi 200 tỷ đồng (tiền mặt chuyển khoản) với tư cách vật chứng đã dẫn đến khiếu nại của bên thứ ba nhận tiền ngay tình qua giao dịch có đền bù hợp pháp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thu Uyên đã phân tích sâu sắc các khía cạnh lý luận và thực tiễn của chế định bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu theo BLDS năm 2015. Nghiên cứu đã chỉ rõ các vướng mắc pháp lý nổi cộm trong thực tiễn xét xử liên quan đến giao dịch bảo đảm thế chấp, tài sản đấu giá và việc xác định trách nhiệm của chủ thể có lỗi. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra 4 nhóm giải pháp lập pháp xác đáng nhằm hoàn thiện quy định của Điều 133 BLDS 2015, góp phần cân bằng quyền lợi giữa chủ sở hữu ban đầu và người thứ ba ngay tình, đồng thời củng cố sự ổn định của trật tự giao lưu dân sự tại Việt Nam.