CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG DỊCH VỤ PHÁP LÝ 1. Khái niệm và đặc điểm cúa dịch vụ pháp lý 1. Khái niệm dịch vụ pháp lý Dưới góc độ ngôn ngữ, thuật ngữ “dich vụ pháp lý” là một từ ghép, có thể được phân tích bởi hai từ độc lập khác, đó là “dich vu” và “pháp lý”. Trong đó, “dịch vụ” là “công việc phục vu trực tiếp cho những nhu cau nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”".
Còn “pháp ly” là “bh luận, nguyên lÿ về HA Gà pháp luật””. Như vậy, nếu nói về khía cạnh ngôn ngữ như nêu trên thì có thé hiểu địch vụ pháp lý chính là những công việc liên quan đến pháp luật, được tổ chức một cách chuyên nghiệp, đáp ứng cho yêu cầu của số đông để thu về các lợi ích vật chất nhất định. Còn theo từ điển tiếng anh Cambridge, dịch vụ pháp lý (legal services) được hiểu một cách vô cùng đơn giản, đó là “nhiing công việc được thực hiện bởi một luật sư đối với khách hàng của mình” (work done by a lawyer to a client)’. Khái niệm dịch vụ pháp lý theo từ điển Cambridge thậm chí đã giới hạn đó chỉ là những công việc được thực hiện bởi một luật sư, chứ không thé là bat kỳ chủ thé nào khác.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, một số tác giả trong các công trình của mình cũng như các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra góc nhìn của mình về dich vụ nói chung và dịch vụ pháp lý nói riêng. Trong luận án tiến sĩ về “Hop đồng dich vụ theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành — Một số vấn đề lý luận và thực tiên” của tác giả Kiều Thị Thuy Linh, tại trang 19, tac gia có đưa ra khái niệm dịch vu đó là “hoạt động thực hiện công việc nhất định đáp ứng nhu cẩu của con người, được thực hiện có tính chuyên môn hóa, có tổ chức, là một loại hàng hóa luôn gắn liền với thị trường, chịu sự chỉ phối của quy luật thị tường”. Như vay, có thé thấy rằng quan điểm về địch vụ của tác giả Kiều Thị Thùy Linh khá tương đồng ° Viện ngôn ngữ học (2003), Tir điển riếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr. 256 a Viện ngôn ngữ hoc (2003), Tir điền tiéng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.
767 Ÿ Xem thêm tại https://dictionary.org/dictionary/english/legal-services, ngày truy cập 28/5/2024 10 với khái nệm dịch vụ dưới góc độ ngôn ngữ như đã đề cập ở trên, đều là những công việc đáp ứng cho nhu cầu của con người và có tính chuyên nghiệp, tổ chức. Tuy nhiên, góc nhìn của tác giả Kiều Thi Thùy Linh còn nhấn mạnh một đặc tính quan trọng của dịch vụ, đó chính là gắn liền với thị trường, chịu sự chi phối của các quy luật thị trường. Điều này cho thấy tác giả đã không chỉ nhìn nhận dịch vụ ở một công việc đơn thuần, mà đặt nó vào trong bối cảnh tổng thể của nền kinh tế với tư cách là một loại hàng hóa đặc biệt, chịu sự ảnh hưởng của các quy luật kinh tế nói chung như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. từ đó phân tích tác động của chúng đến bản chất của dịch vụ.
Theo quan điểm của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về “Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển” của Viện Khoa học pháp lý, tại trang 15, tập thé tác gia có đưa ra khái niệm “dich vụ pháp lý có thể được định nghĩa là tổng thé các dịch vụ tue vấn pháp luật và dịch vụ đại điện pháp ly được định lập và thực hiện theo quy định pháp luật của nước nơi các dich vụ đó được định lập và có thể được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục t6 tụng khác nhau của hệ thống pháp luật quốc gia”. Với góc nhìn này, có thé thay rằng tập thé tác giả đã có sự phân loại về địch vụ pháp lý ở ngay trong chính khái niệm, bao gồm dich vụ tư van pháp luật và dich vụ đại điện pháp lý. Đây cũng là hai trong số các dịch vụ liên quan đến các hoạt động pháp luật tương đối phố biến và áp dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, khái nệm này lại chưa hoàn toàn làm rõ nội hàm của thuật ngữ dịch vụ mà chủ yếu chỉ đề cập đến phần “pháp lý” và do đó chưa phải là một khái niệm toàn diện về dịch vụ pháp lý nói chung.
Thêm vào đó, tac giả Hoàng Thị Vịnh trong công trình luận án tiễn sĩ về “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam”, tại trang 31 có đưa ra khái niệm về dich vụ pháp lý đó là “?oại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do nhà nước hoặc các tổ chức hành nghề cung ứng dich vụ pháp lý thực hiện nhằm đáp ứng nhu cau về pháp lý của tổ chức, cá nhân ”. Tác giả Hoàng Thị Vịnh trong trường hợp này cũng đã có sự nhắn mạnh hơn về yếu tố “pháp lý” ở trong tổng thê thuật ngữ, cụ thể hơn ở góc độ chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý đó là nhà nước và 11 các tổ chức hành nghề cung ứng dich vụ pháp lý. Mặc dù vậy, cách thức phân loại về mặt chủ thể cung ứng như vậy không hoàn toàn làm nỗi bật lên bản chất cũng như các yêu tố đặc thù của dịch vụ pháp lý mà chỉ đưa ra những van dé khá chung chung, do đó chưa phải là một khái niệm thật sự hợp lý liên quan đến dịch vụ pháp lý. Đứng ở góc độ quy định pháp luật quốc tế, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), với tư cách là một Hiệp định ra đời trong quá trình thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đưa ra các quy định áp dụng về dịch vụ với tat cả các quốc gia thuộc WTO, bao gồm ca dịch vụ pháp lý.
Theo “danh sách phân loại ngành dịch vụ” của WTO, “dịch vụ pháp lý” được đưa vào nhóm ngành phụ của (1) các dịch vụ kinh doanh và (A) các dịch vụ chuyên nghiệp. Hệ thống phân loại này cũng tương thích với hệ thống phân loại của Liên hợp quốc, trong đó “dịch vụ pháp lý” được chia nhỏ thành”: * Dịch vụ tư van và đại diện pháp lý liên quan đến hình sự (86111); * Dịch vụ tư vấn và đại điện pháp lý liên quan đến thủ tục tư pháp trong các lĩnh vực pháp luật khác (86119); * Dịch vụ tư vẫn và đại điện pháp lý trong các thủ tục luật định liên quan các hội đồng tư pháp (thầm quyền như tòa án) (86120); * Dịch vụ lập hồ sơ và chứng thực pháp lý (86130); * Dịch vụ trọng tài và hòa giải. Như vậy, ở góc độ một số các quy định pháp luật quốc tế thì hiện nay cũng không có ghi nhận cụ thể về khái niệm của dịch vụ pháp lý, mà chỉ đơn thuần liệt kê các loại dịch vụ pháp lý chi tiết. Nói tóm lại, dựa vào một số những góc nhìn khác nhau như đã phân tích ở trên, tác giả cho rằng mỗi góc nhìn đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng khi đưa ra khái niệm về dich vụ pháp lý.
Theo quan điểm của tác giả, một khái niệm tổng hợp về dịch vụ pháp lý sẽ cần phải làm rõ được các nội dung riêng biệt về cả hai yếu tố bao gồm “dich vụ” và “pháp lý”, nếu thiếu bat kỳ nội dung * Xem thêm tại https://www.org/MediaHandler?id=4F39B§D5-2110-4ASA-BDAF-7CB1D7083236, ngày truy cập 28/5/2024 12 nào trong hai thuật ngữ đó đều sẽ tạo nên sự khiếm khuyết và chưa đầy đủ của địch vụ pháp lý. Cụ thê, với phần “địch vụ” thì khái niệm cần phải đưa ra được đó là một công việc có sự chuyên môn hóa, có tính tổ chức nhằm đáp ứng cho nhu cầu của số đông. Trong khi đó, với phần “pháp lý” thì chúng ta cần phải chỉ rõ đây là yếu tô có liên quan đến pháp luật, sẽ bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nhau như tư vân pháp lý, đại điện pháp lý và tất cả các hoạt động liên quan đến pháp luật khác được nhà nước cho phép. Từ đó, tác giả có xây dựng khái niệm tông hợp về dịch vụ pháp lý như sau: “Dịch vụ pháp lý là các công việc được thực hiện một cách chuyên nghiệp, có tô chức nhằm đáp ứng cho nhu câu của nhiều chủ thé trong lĩnh vực pháp luật bao gồm tư vấn pháp lý, đại điện pháp lý và tất cả các hoạt động khác có liên quan đến pháp luật được nhà nước cho phép ”.
Đặc điểm của dịch vụ pháp lý Thứ nhất, dịch vụ pháp ly thể hiện sự chuyên nghiệp, có tổ chức của bên cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cau của nhiều chủ thể. Đây không chi là đặc điểm riêng của dich vụ pháp lý mà còn là đặc điểm chung tổn tại ở bất kỳ dich vụ nào dé giúp chúng ta phân biệt với các công việc mang tính chất phi địch vụ. Bản chất địch vụ được xem là một loại hàng hóa đặc biệt, tồn tại trong nền kinh tế nhằm đáp ứng cho nhu cầu của số đông các cá nhân, t6 chức trong xã hội. Dé có thé đáp ứng các nhu cầu nay trên một quy mô lớn như vay, việc tổ chức và thực hiện các công việc dịch vụ phải được tiễn hành một cách chuyên nghiệp và có tổ chức, nghĩa là bên cung ứng dịch vụ phải có kỹ năng chuyên môn, kiến thức, kinh nghiệm về lĩnh vực đó, được đào tạo về các vẫn đề liên quan đến địch vụ một cách bài bản thông qua các băng cấp, chứng chỉ hành nghề.
Thêm vào đó, việc cung ứng dich vụ phải được thực hiện một cách có tô chức, nghĩa là mô hình dịch vụ cần phải được triển khai thông qua một quy trình nhất định, có thể có sự phối hợp của nhiều người, nhiều đơn vị để tạo nên hiệu quả công việc. Chỉ có như vậy thì địch vụ đó mới có khả năng cung cấp cho số đông các cá nhân, tổ chức sử dụng dich vụ. Điều này hoàn toàn khác với các công việc mang tính chất phi dịch vụ, khi những công việc đó mang tính chất tự phát trong 13 một tình huống nhất định, bản thân bên thực hiện công việc cũng không phải là bên chuyên nghiệp mà chủ yếu dựa trên sự tin tưởng nhau là chính. Do vậy, các công việc phi dịch vụ không thé được thực hiện trên một quy mô lớn và đấp ứng cho nhu cầu của nhiều chủ thể trong xã hội.
Thứ hai, dich vụ pháp lý luôn gắn liền với các hoạt động về pháp luật.