phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu 3 chương. Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho cán bộ, đảng viên trên báo điện tử Chương 2. Đánh giá hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho cán bộ, đảng viên trên báo điện tử Chương 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho cán bộ, đảng viên và một số kiến nghị 17 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nhóm nghiên cứu liên quan đến hiệu quả truyền thông – báo chí Nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng là vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu đề tài luận án, tác giả đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu sau: Các tác giả Philip Kotler, Ned Roberto, Nancy Lee (2002) trong Social Marketing – Improving the Quality of Life (Tiếp thị xã hội – nâng cao chất lượng cuộc sống) đã đề cập tới những vấn đề và những yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược truyền thông; tính chất của từng loại kênh truyền; nhận biết ưu điểm và hạn chế của từng kênh truyền để có sự lựa chọn phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông. Các tác giả cuốn sách cũng tập trung phân tích việc lựa chọn kênh truyền thông và phương tiện truyền tải chiến lược trong hoạt động marketing xã hội: quảng cáo, quan hệ công chúng, các ấn phẩm in, các hình thức quảng cáo đặc biệt, ký hiệu và trưng bày, truyền thông cá nhân, truyền thông phổ biến.
Vấn đề lựa chọn kênh truyền thông tiêu biểu được đề cao. Những người chịu trách nhiệm lập kế hoạch về truyền thông, đồng thời đối diện với việc phải quyết định chọn kênh truyền tải nào (truyền hình, các chương trình phát thanh, tạp chí, báo in, bảng hiệu quảng cáo, phương tiện giao thông theo tuyến, website hoặc thư mời trực tiếp) để chuyển tải thông điệp [177]. Trong cuốn Communication research: Asking question, finding answers (Nghiên cứu truyền thông: đặt câu hỏi, tìm câu trả lời) (2006), tác giả Joann Keyton tập trung giới thiệu phương pháp nghiên cứu cơ bản và phương pháp định tính, định lượng trong quá trình nghiên cứu truyền thông. Qua đó, giúp sinh viên sử dụng hiệu quả các tài liệu nghiên cứu truyền thông bằng phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu và phân tích thông tin.
Bên cạnh đó, định hướng cho sinh viên, những người muốn phát triển và thực hiện các dự án nghiên cứu. Joann Keyton giới thiệu tổng quát về quá trình nghiên cứu: làm thế nào để biến 18 một ý tưởng thành một câu hỏi, lựa chọn một phương pháp nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu và viết ra kết quả nghiên cứu; đồng thời cung cấp cho người đọc hàng trăm ví dụ về nghiên cứu truyền thông đã được thực hiện, rút ra từ các bài báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng [176]. Effective Communications for Project Management (Truyền thông hiệu quả cho quản lý dự án) (2007), của tác giả Ralph L. Kliem gồm 11 chương.
Trong đó, tác giả khẳng định: trong một tổ chức/cơ quan, thực tế cho thấy cán bộ quản lý hay người nắm giữ tài chính luôn gặp nhiều thách thức, khó khăn đối với bài toán làm sao truyền thông một cách hiệu quả nhất. Đơn giản vì vai trò của họ là quản lý dự án, phải thiết lập và điều tiết công tác truyền thông hướng tới đạt được mục tiêu quan trọng cuối cùng của dự án đó. Truyền thông hiệu quả trong quản lý dự án là sự tổng hòa các công cụ truyền thông hiệu quả, nhấn mạnh tới hệ thống thông tin quản lý dự án trong việc hỗ trợ người quản lý dự án hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Từ đó, tác giả đưa ra các yếu tố chính để gặt hái thành công trong truyền thông, đó là: Chủ động và lắng nghe một cách hiệu quả; Sẵn sàng tương tác và thiết lập một chu trình quản lý các đầu/mục việc; Dự thảo và trình bày văn bản; Thiết lập các cuộc gặp; Trình bày bài giới thiệu một cách hấp dẫn, ngắn gọn; Xây dựng và phát triển một trang web cho dự án của mình; Thành lập một không gian riêng cho quá trình tranh luận/thảo luận dự án [178].
Bằng việc đưa ra các bằng chứng và danh sách liệt kê có tính thích ứng cao với hầu hết các loại dự án, có thể coi cuốn sách này là nguồn tham khảo rất hữu ích không chỉ giúp người quản lý dự án đạt hiệu quả tối ưu trong truyền thông mà còn cho thấy vai trò to lớn của truyền thông trong bất kỳ dự án nào. “Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động khác nhau của truyền thông đại chúng Mỹ giống nhau ở chỗ, công chúng chỉ được coi là đối tượng của tác động truyền thông. Một số ít hơn các công trình được thực hiện theo quan điểm “sử dụng và thỏa mãn”. Trong các công trình ấy, tác động của truyền thông đại 19 chúng được xem từ chỗ những tác động này quan hệ thế nào với việc thỏa mãn nhu cầu của công chúng.
Các nhà chuyên môn cũng đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu, có thể lấy đó làm cơ sở để phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng: 1/ Hiệu quả vị lợi, 2/ Hiệu quả uy tín, 3/ Hiệu quả tăng cường quan điểm, 4/ Hiệu quả thỏa mãn lợi ích nhận thức, 5/ Hiệu quả cảm xúc, 6/ Hiệu quả thẩm mỹ, 7/ Hiệu quả thuận tiện” [111, tr. Nhóm nghiên cứu về tuyên truyền pháp luật liên quan tới truyền thông – báo chí Graham Greenleaf, Andrew Mowbray, Geoffrey King and Peter van Dijk: Public access to law via internet (Quyền tiếp cận luật thông qua Internet) cho rằng, tự do tiếp cận thông tin ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi thông tin về luật pháp còn khó đến được với người dân. Chưa bao giờ các điều kiện lại thuận lợi như vậy với việc phổ biến thông tin pháp luật, với nền tảng internet và các công nghệ khác. Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng về cung cấp thông tin luật pháp với hiệu quả cao và giá thành rẻ.
Do đó, việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng trên mạng điện tử cần được quan tâm đúng mực [181]. Graham Greenleaf, Philip Chung, Andrew Mowbray trong Free access to law via Internet as a condition of the rule of law in Asian societies (Miễn phí truy cập pháp luật thông qua Internet trong xã hội châu Á) khẳng định: Tự do tiếp cận thông tin pháp lý cần phải được quan tâm đúng mức, đặc biệt với các nước châu Á bởi nó liên quan đến sự phát triển của luật pháp tại các nước. Người dân cần phải được tiếp cận các tài liệu pháp luật, có sự so sánh hệ thống pháp luật của các quốc gia. Tại đây, thiết bị Internet miễn phí, độc lập và phi lợi nhuận cung cấp bảo hiểm tương đối toàn diện các thông tin pháp lý.
Đây là gợi ý cho các quốc gia trong khu vực trong tư pháp hỗ trợ tiếp cận thông tin pháp luật; khuyến khích và hỗ trợ sự phát triển của truy cập tự do toàn cầu thông tin pháp 20 lý cần thiết. Phạm vi và các cơ sở dữ liệu được mô tả ngắn gọn để mọi người tiếp cận dễ dàng hơn [182]. Tác giả Daniel Poulin, trong Open access to law in developing countries (Mở quyền truy cập vào pháp luật ở các nước đang phát triển) cho rằng, bảo đảm một lan rộng và bất cứ khi nào có thể, miễn phí, tiếp cận thông tin pháp lý đã trở nên quan trọng ở khắp mọi nơi. Truy cập mở có cổ phần cao hơn ở các nước phát triển, nơi tiếp cận với pháp luật thường rất khó.
Trong bối cảnh cụ thể này, truy cập miễn phí để đạo luật và trường hợp pháp luật có thể đóng góp đáng kể cho một cơ sở tốt hơn về các quy định của pháp luật và hợp nhất tổng thể của thể chế pháp lý quốc gia. Chưa bao giờ có điều kiện tốt hơn tồn tại trong một lưu thông rộng hơn của pháp luật. Internet và các công nghệ liên quan đã cách mạng hóa đáng kể khả năng cung cấp chất lượng cao, truy cập chi phí thấp để tiếp cận tài liệu pháp lý quốc gia [183]. Tác giả Shirley Biagi (2004) trong Media impact (Tác động truyền thông) đề cập đến định hình các luật và quy định; cải cách các quy tắc đạo đức truyền thông đại chúng; phương tiện truyền thông toàn cầu: giao tiếp thay đổi.
Cuốn sách cũng đề cập đến các ngành công nghiệp phương tiện truyền thông, bao gồm: Thông tin đại chúng và cuộc sống hàng ngày; sách; tạp chí; phát thanh; truyền hình; internet truyền thông: mở rộng web. Về Quảng cáo, gồm nội dung: mối quan hệ người tiêu dùng và công chúng; những ý tưởng quảng bá. Về thay đổi các thông điệp, gồm các nội dung: Tin tức, thông tin và các vấn đề chính trị [179]. Các tác giả Vương Tiến Nghĩa, Quần Tuyết Mai (2006) trong Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua mạng Internet, cho biết: Từ năm 1969 trên thế giới xuất hiện mạng Internet và những ứng dụng tiện ích của loại hình này rất phổ biến, phát triển rất nhanh.
Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng Internet đã được Chính phủ Trung Quốc quan tâm thực hiện nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân, phát huy tác dụng và đẩy 21 mạnh trình độ quản lý bằng pháp luật trên toàn xã hội. Trong đó, ứng dụng việc tuyên truyền giáo dục pháp luật kết hợp qua mạng, các loại hình và những vấn đề cần lưu ý khi tuyên truyền, giáo dục pháp luật qua mạng Internet [117, tr. Tác giả Thượng Hải (2006), với bài báo khoa học Nắm bắt và xử lý tốt 10 phương diện có liên quan tới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, Tạp chí Tư pháp Trung Quốc đã đưa ra 10 phương diện để làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình hiện nay. Cụ thể là: Quan hệ của quy luật giữa kiên trì vận dụng sự phát triển của khoa học và tự mình nắm bắt công việc; quan hệ giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với việc xây dựng xã hội hài hoà; mục tiêu chủ yếu của công tác tuyên truyền với các mục tiêu khác; tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với thực tiễn từng địa phương; sáng tạo các hình thức tuyên truyền mới; quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp thực hiện tuyên truyền; gắn quy hoạch, kế hoạch với việc thực hiện tuyên truyền; sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân [77, tr.