CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE CHE TÀI THƯƠNG MẠI VÀ PHAP LUAT VE CHE TÀI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về chế tài thương mại 1. Khái uiệm chế tài, chế tai throug mai Trong khoa học pháp lý, chê tài là thuật ngữ có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ tiéng La-tinh là Sanctio (phán quyết nghiêm khắc nhập, theo ngliia nguyên thủy là hình thức trùng phạt nghiêm khắc nhật đành cho những người vi phạm luật 1$? Ngày nay, thuật ngữ chế tai được sử dung rộng rãi trong khoa học pháp lý. Hiéu theo nghia réng, chế tài là các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với việc thực thi các quy phạm pháp luật, là phản ứng của nhà nước trước các hành vi vi pham pháp luật.
Hiểu theo nghia hep, chế tài là mat ô phận câu thành của quy phạm pháp luật, đự kiên những biên pháp được áp dung đối với các chủ thé vi phạm pháp luật). Ở Việt Nam, theo Từ điền Luật học, chế tai được hiéu theo nghĩa hep, là một trong ba bộ phận cầu thành một quy pham pháp luật, theo đó, ché tải là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vị vi pham với các quy tắc xử sự chung được ghi nhận trong phân quy định và giả dinh của quy phạm pháp luật Như vậy, hiểu theo ngiĩa chung nhất, chế tài là các biên pháp cưỡng ché ma nha nước dự kiên áp dụng đôi với các chủ thê có hành vi vi pham pháp luật dé đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách day đủ, nghiêm túc. Các chế tai do nha nước đất ra, được quy định trong các quy pham pháp luật và mang tính cưỡng ché thi hành. Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, chế tài được chia thành chế tài hình sự, chế tai hanh chính, chế tai dân sự,.
Chế tải hình sự là ché tai xác định hình phạt có thé áp dụng đối với người thực hiên hành vi pham tôi. Chế tài hành chính là chế tài xác định biện pháp xử lý của nhà nước đối cới các cá nhân, tổ chức có hành vi vi pham pháp luật về quản ly nhà nước ma không phải là tội phạm, "Teng Daihoc Luật Hà Nội 2015), Giáo trink \ nhữ merc và pháp tuật Nxb. Tư pháp ,tr134 4 Viên khoa học pháp ly, Bộ Tư pháp (200610, Ti huật học, Nxb. Tw pháp, Hà Nội, tr.130 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Chế tài din sự là chế tài xác định hậu quả pháp lý bất loi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật trong các quan hệ dân sự khi ho không thực hiện, thực hiện không đúng các nghia vụ dân sự. Do quan hệ thương mai là một dang quan hệ đặc thù của quan hệ dân sự nên. ché tai trong thương mai cũng mang những dâu hiéu của chê tai dân sự Chê tải thương mai có thé hiểu theo hai cách nứnư sau: Thứ nhất, theo nghĩa rộng, chế tai thương mai được hiểu là những hình thức chế tài được cơ quan nhà nước hoặc bên có quyên lợi bị vi phạm áp dung đối với bên có hành. vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thương mại khi họ không thực hiện, thực hién không đúng hoặc không day đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại.
Những nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mai có thé kế đền ninư nghĩa vụ phát sinh từ hợp đông được giao kết trong hoạt động thương mai, những ng†ĩa vu phát sinh ngoài hợp đồng (vi du: ng†ĩa vụ bôi thường thiệt hai khi tau trở hang va đâm làm chim tàu đánh cả), những nghĩa vu phát sinh theo pháp luật (vi du: nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo pháp luật thương mại, nêu không thực liện sẽ phải chiu những hậu quả mà pháp luật quy định nh bị xử phạt vi phạm hành chính, thậm chi có những hành vi vi phạm pháp luật khi thực hiện hoạt động thương mại phải chiu su trùng phat của pháp luật hình sự như buôn ban hang gia). Theo cách hiểu này, chế tai thương mại không đơn thuan là chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong thương mai mà còn là chê tai áp dung đối với moi vi phạm nghĩa vụ phát sinh kể từ khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ do pháp luật thương mai điều chỉnh. Thứ hai, theo nghia hẹp, chế tài trương mai được hiểu là hình thức chế tai được áp dụng đối với bên có hành vi vĩ pham hợp đồng trong thương mai (hay còn gợi là chế tài hợp đông). Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là việc không thực hiên hợp đồng thực hiện không day đủ hoặc thực hiện không đúng ngiĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy đính của pháp luật (khoản 1 2 Điều3 LTM năm 2005).
Xét các hình thức chế tai thương mai được quy đính tại Điều 292 LTM năm 2005 thi thuật ngữ “chê tai trong thương mai” mà LTM năm 2005 đề cập được hiéu theo nghĩa * Viên khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. hep, là những chê tài do vi phạm hợp đông trong lính vực thương mai, không bao gồm những ché tài do vi phạm pháp luật thương mai khác. Điều này có thê xuất phát từ lý do những chế tài khác mac đù được nhấc tới tại khoản1 Điều 321 LTM năm 2005 nhưng lại thuộc các lĩnh vực khác như hình sự, hành chính nên LTM năm 2005 không quy dinh cụ thể ma chỉ tập trung quy định chế tai do vi phạm hợp đông trong lĩnh vực thương mai.
Như vậy, theo cách hiểu của LTM nếm 2005, chê tai trong thương mai xác định những hau quả pháp lý bat lợi được áp dung đồi với các bên có hành vi không thực hiên, thực liện không đây đủ hoặc thực hiện không đúng nghifa vu theo hợp đông trong thương mai hoặc theo quy đính của pháp luật. Trong khuôn khô khóa luận, tác gia sử dung thuật ngữ chê tài thương mại theo ngliia mà LTM năm 2005 quy định là chê tài do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mai. Đặc điểm và phan loại chế tai throug mai 1. Đặc diém của chế tài thương mai Thứ nhất, về bản chất, ché tai thương mai chỉ được áp dung hay phát sinh khi có hành vi vi pham một hợp đồng thương mai có luệu lực pháp luật.
Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được áp dung đối với moi hành vi vi phạm pháp luật, ché tài thương mai chỉ được áp dụng đôi với hành vi vi phạm những điều khoản trong hợp đông mà các bên đã thỏa thuận Xuất phát tử nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên tư nguyên quyét định việc giao kết những điều khoản của hợp đông phù hợp với mục đích kinh doanh. của mình Khi hợp đông phát sinh hiéu lực pháp luật, các bên sé rang buộc với nhau về quyền và nghiia vụ theo hợp đông, theo đó, các bên cần tuân thủ đúng theo các quyền và nghia vu phù hợp với quy định của pháp luật đã được thỏa thuận trong hợp đông Chế tai chi được datrakhi các bên có sự vì pham đổi với thỏa thuận đó. Hành vịvị pham hợp đông này cũng sẽ là căn cứ cơ bản và quan trọng nhật đề xác định các bên có bị ap dung ché tai thương mai không và nêu áp dung thì hình thức ché tai được áp đụng là gì. Thứ hai, về tính chất, chê tài thương mại chủ yêu mang tinh tài sản, buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bat lợi về tài sản Vì các quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật thương mai hau hết 1à quan hệ tải sản nên chế tài thương mại trước hết thực hiện chức năng tác động về tài sản đối với bên vi phạm.
Các chế tai tai sản áp dung đối với bên vi pham đưới các hình thức khác nhau, có thé là những nghiia vu bôi thường thiệt 10 hại do không thực hiện, thực hiện không đúng không day đủ các cam kết trong hợp đông Có thé là những nghĩa vụ tai sản bô sung so với nghĩa vụ hợp đông như tiền phạt, lãi suất chậm thanh toán, khoản lợi nluận bi bỏ lố,. Tuy nhiên, pháp luật thực định Việt Nam hién nay cũng có những chế tài không mang tính tài sản nl chế tài tạm ngừng thực hiên hợp đông, định chỉ thực hiện hop đông hay hủy bỏ hợp đông. Thứ ba, chủ thể gánh chịu hậu quả pháp I bắt lợi là bên vi phạm ngiña vụ hop đồng Quan hé thương mại được xây dung dua trên nguyên tắc là quan hệ bình đẳng giữa các bên, việc vị phạm nghia vụ của bên này chính 1a vi pham quyên của bên kia và ngược lei. Vi thé, chế tai thương mại trước hết là hình thức trách nhiệm của bên vi pham đối với bên bi vi pham ngl#a vụ hợp dong Các ché tai thương mai mà pháp luật quy định là các quy định buộc bên vi phạm phải có trách nhiệm với hành vi vi phạm ma minh gây ra.
Ngoài ra, chế tài thương mai chỉ có thể được áp dụng khi có yêu câu của một bên trong hợp đồng, đó là bên có quyên va lợi ích bị vi pham. Đây cũng là điểm khác biệt của chế tải thương mai so với các loại chế tai hành chính hay hình sự Chê tai hành chính hay hình sự có thể được áp dung dua trên yêu câu của cơ quan nha nước có thâm quyên, không xuat phat từ yêu cau của các bên nhưng đổi với chế tài thương mai, điệu kiện dau tiên để xem xét áp dung phải 1a có yêu câu của một bên trong quan hệ hợp đông. việc dp ding chế tài thương mai mang tính mém déo, linh hoạt và tôn trong quyển tự đình đoạt của các bên. Bởi việc áp dụng chê tài thương mai có thé được các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng, bên bị vi pham có quyên áp dung ché tài đối với bên vị phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định pháp luật.
Vi dụ, các bên có thé tự thỏa thuận vệ bình thức ché tai xử lý khi một trong các bên có hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng nÍnư phạt vi phạm hợp đông, mức phạtvi phạm, các trường hợp vi phạm. dan đến hủy hợp đồng. Hon nữa, néu xây ra tranh chấp, các bên co thể yêu cau Tòa án hay Trọng tài (khi có thỏa thuận của các bên) đề giải quyết Thứ năm, chế tài thương mại không nhất thiết phải có sự hồi tụ day đãi những điều kiên về mặt hình thức như đối với trách nhiệm pháp |ý.