Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, các giao lưu dân sự ngày càng gia tăng kéo theo sự xuất hiện phổ biến của các hiện tượng xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Những hành vi trái pháp luật hoặc tác động khách quan có thể gây tổn thất nghiêm trọng đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và uy tín của các chủ thể. Khi thiệt hại thực tế xảy ra, quan hệ bồi thường thiệt hại được hình thành nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của bên bị thiệt hại, bảo đảm sự công bằng và ổn định xã hội.
Dưới góc độ lập pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định mục tiêu tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Thể chế hóa tinh thần này, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTHNHD) — vốn đã được quy định qua các Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, 2005 — đã được sửa đổi, bổ sung căn bản trong BLDS năm 2015. Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã hoàn thiện hơn, thực tiễn áp dụng tại các cơ quan xét xử vẫn còn phát sinh vướng mắc, bất cập. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Bùi Phương Thảo thực hiện khóa luận "Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thực tiễn xét xử tại tỉnh Thanh Hóa" thuộc chuyên ngành Luật Dân sự - Tố tụng dân sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Long.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Một là: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và hệ thống hóa các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTHNHD; làm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại và các điều kiện phát sinh trách nhiệm.
- Hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật về trách nhiệm BTTHNHD tại các Tòa án nhân dân (TAND) trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế.
- Ba là: Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật của TAND các cấp tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTHNHD trong BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tập trung trọng tâm vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người (cá nhân) gây ra; cùng thực tiễn xét xử các vụ án liên quan tại TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn nghiên cứu trong khuôn khổ các quy định của BLDS năm 2015, văn bản hướng dẫn thi hành; phạm vi không gian là địa bàn tỉnh Thanh Hóa; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ ngày 01/01/2017 (thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành) đến nay, có sự so sánh đối chiếu với giai đoạn áp dụng BLDS năm 2005.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kế thừa và phát triển cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu chuyên sâu trong khoa học pháp lý dân sự, tiêu biểu như:
- Các sách chuyên khảo của PGS.TS Phùng Trung Tập (2017) về bình giải và áp dụng trách nhiệm BTTHNHD; TS Đỗ Văn Đại (2018) về bản án và bình luận bản án BTTHNHD; TS Nguyễn Văn Hợi (2020) về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
- Các luận văn, luận án của Lê Ngọc Lan (2016), Nguyễn Văn Hợi (2017), Trịnh Thị Thanh Thảo (2018).
- Các bài viết học thuật của Lê Văn Sua (2018), Phạm Quang Tiên (2023), và Kỷ yếu hội thảo khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội (2019).
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu bao gồm: Hiến pháp năm 2013; BLDS năm 2005; BLDS năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm BTTHNHD; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chế định trách nhiệm BTTHNHD qua các thời kỳ lập pháp.
- Phương pháp phân tích và bình luận: Làm rõ bản chất, nội dung các quy định pháp luật dân sự hiện hành và thực tiễn xét xử tại Tòa án.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quy định giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015, chỉ ra những điểm hoàn thiện và hạn chế.
- Phương pháp nghiên cứu học thuyết pháp lý: Phân tích chuyên sâu về quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm, tổng hợp số liệu và thực tiễn xét xử thành hệ thống luận cứ.
Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, các tạp chí nghiên cứu lập pháp, tạp chí tòa án, và hồ sơ, bản án xét xử thực tế tại TAND tỉnh Thanh Hóa (đặc biệt là TAND huyện Cẩm Thủy).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về trách nhiệm BTTHNHD với các nội dung trọng tâm:
- Khái niệm và đặc điểm: Trách nhiệm BTTHNHD được định nghĩa là một hình thức trách nhiệm dân sự, theo đó buộc chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp các tổn thất về tinh thần cũng như vật chất cho chủ thể bị thiệt hại. Trách nhiệm này có các đặc điểm cơ bản:
- Là một loại trách nhiệm dân sự mang tính cưỡng chế của Nhà nước;
- Do luật định, phát sinh không phụ thuộc vào thỏa thuận trước đó giữa các bên;
- Có thể do chủ thể không trực tiếp gây ra thiệt hại gánh chịu (cha mẹ bồi thường thay con chưa thành niên, pháp nhân bồi thường thay nhân viên...);
- Dựa trên cơ sở thiệt hại thực tế xảy ra, yếu tố lỗi trong BLDS năm 2015 mang tính chất suy đoán chứ không phải điều kiện bắt buộc nạn nhân phải chứng minh;
- Mang tính tài sản nhằm bù đắp tổn thất vật chất và tinh thần.
- Phân loại trách nhiệm BTTHNHD:
- Căn cứ vào nguyên nhân gây thiệt hại: Phân chia thành BTTH do hành vi của con người gây ra và BTTH do tài sản gây ra.
- Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ: Phân chia thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ.
- Phân biệt BTTH ngoài hợp đồng và BTTH trong hợp đồng:
| Tiêu chí phân biệt |
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng |
| Căn cứ phát sinh |
Giữa các bên không có hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi vi phạm không liên quan đến nội dung thỏa thuận; căn cứ theo luật định. |
Phát sinh do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. |
| Yếu tố lỗi |
Hình thức và mức độ lỗi ảnh hưởng ít; có trường hợp bồi thường không có lỗi hoặc áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán. |
Bắt buộc phải có lỗi; mức độ bồi thường phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ và hình thức lỗi. |
| Điều kiện thiệt hại |
Bắt buộc phải có thiệt hại thực tế xảy ra (vật chất hoặc tinh thần); bồi thường cả thiệt hại không dự liệu trước. |
Thiệt hại không phải điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm (có thể phạt vi phạm); chỉ bồi thường thiệt hại vật chất có thể dự liệu trước. |
| Thời điểm phát sinh |
Kể từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại. |
Kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực và có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. |
| Chấm dứt nghĩa vụ |
Sau khi bồi thường xong, quan hệ nghĩa vụ giữa các bên chấm dứt. |
Sau khi bồi thường, quan hệ hợp đồng và các nghĩa vụ khác chưa hẳn đã chấm dứt hoàn toàn. |
- Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTHNHD: Khóa luận làm rõ 3 điều kiện: (1) Phải có thiệt hại thực tế xảy ra; (2) Phải có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; (3) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra (đáp ứng tính thời gian, tính hiển nhiên và tính khách quan).
Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Thanh Hóa
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định của BLDS năm 2015, văn bản hướng dẫn và thực tiễn áp dụng:
- Về điều kiện phát sinh và yếu tố lỗi: So sánh giữa Điều 604 BLDS năm 2005 (hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định 4 điều kiện gồm có lỗi) và Điều 584 BLDS năm 2015 (hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP chỉ quy định 3 điều kiện: có thiệt hại, có hành vi trái luật, có quan hệ nhân quả). Tác giả khẳng định quan điểm: việc không quy định lỗi là điều kiện bắt buộc người bị thiệt hại phải chứng minh là tiến bộ, bảo vệ quyền lợi nạn nhân; người gây thiệt hại không có lỗi chỉ được xem xét giảm mức bồi thường theo khoản 2 Điều 585 chứ không phải căn cứ loại trừ trách nhiệm (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại).
- Quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường (Điều 586):
- Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên: Tự bồi thường bằng tài sản của mình.
- Người dưới 15 tuổi: Cha mẹ bồi thường; nếu tài sản cha mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì trích tài sản riêng của con để bồi thường phần còn thiếu.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự bồi thường bằng tài sản riêng; nếu không đủ thì cha mẹ bồi thường phần thiếu.
- Người được giám hộ (người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi): Trích tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu không đủ thì người giám hộ bồi thường bằng tài sản của mình trừ khi chứng minh không có lỗi trong việc giám hộ.
- Chủ thể được bồi thường và thời hạn hưởng bồi thường cấp dưỡng:
- Quy định chủ thể được bồi thường khi tài sản, sức khỏe (người bị thiệt hại và người chăm sóc), tính mạng (thân nhân, người được cấp dưỡng, người thừa kế hàng thứ nhất) bị xâm phạm (Điều 591).
- Thời hạn cấp dưỡng: Con chưa thành niên được hưởng từ khi người cấp dưỡng chết đến khi đủ 18 tuổi (hoặc kết thúc sớm hơn nếu từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động có thu nhập tự nuôi sống bản thân); con đã thành thai được hưởng từ khi sinh ra và còn sống; người thành niên mất khả năng lao động được hưởng cho đến khi chết.
- Thời hiệu khởi kiện (Điều 588 BLDS năm 2015 & Điều 5 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP): Là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (tăng 01 năm so với mức 02 năm của BLDS năm 2005).
- Các trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể:
- Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 594) và vượt quá yêu cầu tình thế cấp thiết (Điều 595): Phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá.
- Do người dùng chất kích thích gây ra (Điều 596): Tự làm mình mất khả năng nhận thức thì phải bồi thường; người thứ ba cố ý dùng chất kích thích ép buộc/làm người khác mất nhận thức thì người thứ ba phải bồi thường.
- Do người của pháp nhân gây ra (Điều 597): Pháp nhân bồi thường khi người của mình gây thiệt hại trong lúc thực hiện nhiệm vụ được giao, sau đó có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả.
- Do người thi hành công vụ gây ra (Điều 598): Áp dụng theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
- Do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện quản lý (Điều 599): Trường học, bệnh viện phải bồi thường trừ khi chứng minh không có lỗi trong quản lý.
- Do người làm công, người học nghề gây ra (Điều 600): Cá nhân, pháp nhân thuê mướn/dạy nghề phải bồi thường thiệt hại phát sinh khi thực hiện công việc được giao.
- Do làm ô nhiễm môi trường: Khắc phục và bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng.
- Thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Tổng quan tình hình thụ lý, xét xử tranh chấp BTTHNHD tại các TAND trên địa bàn tỉnh; bình luận cụ thể các vụ việc giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại trên địa bàn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; chỉ ra những vướng mắc trong thu thập chứng cứ, thẩm định thiệt hại thực tế và xác định trách nhiệm liên đới/người có nghĩa vụ bồi thường bổ sung.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Chương 3 đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi, hoàn thiện khoản 1 Điều 586 BLDS năm 2015 để bảo đảm tính thống nhất với các Điều 20, 22, 23, 24 BLDS năm 2015 (chỉ rõ cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới phải tự chịu trách nhiệm bồi thường).
- Bổ sung quy định rõ ràng hơn về cơ chế chịu trách nhiệm bồi thường của cha mẹ trong trường hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng còn đang đi học, không có tài sản riêng và sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình.
- Hướng dẫn chi tiết phương pháp tính toán tổn thất thu nhập thực tế bị mất/giảm sút và mức bù đắp tổn thất tinh thần đối với từng trường hợp xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại TAND tỉnh Thanh Hóa:
- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ xét xử cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án các cấp tỉnh Thanh Hóa trong việc giải quyết tranh chấp BTTHNHD.
- Tăng cường phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan giám định pháp y, định giá tài sản và chính quyền địa phương (như địa bàn huyện Cẩm Thủy) nhằm xác minh nhanh chóng, chính xác mức độ thiệt hại thực tế.
- Đẩy mạnh công tác hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả pháp lý chính:
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định trách nhiệm BTTHNHD; chứng minh tính hợp lý của việc BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP không coi lỗi là điều kiện bắt buộc người bị hại phải chứng minh, chuyển sang áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán.
- Phân tích chi tiết hệ thống quy định về 3 điều kiện phát sinh trách nhiệm, 4 nhóm năng lực chịu trách nhiệm theo độ tuổi/nhận thức (Điều 586), thời hiệu khởi kiện 03 năm (Điều 588) và các trường hợp bồi thường đặc thù (Điều 594 đến Điều 600).
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Đưa ra các định hướng lập pháp sửa đổi khoản 1 Điều 586 BLDS năm 2015 nhằm tránh mâu thuẫn nội tại với khoản 3 cùng điều luật; đề xuất các biện pháp thực tiễn nâng cao chất lượng xét xử tại TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đóng góp của tác giả: Khóa luận bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu có hệ thống về trách nhiệm BTTHNHD do hành vi của con người gây ra; cung cấp bức tranh thực tiễn xét xử cụ thể tại TAND tỉnh Thanh Hóa (đặc biệt là cấp huyện như Cẩm Thủy) từ sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực (từ 01/01/2017).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung trọng tâm vào trách nhiệm BTTHNHD do hành vi của con người (cá nhân) gây ra; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện mảng trách nhiệm bồi thường do tài sản, nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối hay công trình xây dựng gây ra. Đồng thời, dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ ngày 01/01/2017 đến nay.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả xác định cấu trúc vận hành chuyên sâu của các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra và so sánh mở rộng trên phạm vi toàn quốc sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong các đề tài tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về chế định trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại, điều kiện phát sinh trách nhiệm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm và kỹ năng phân biệt BTTH trong hợp đồng với ngoài hợp đồng.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người làm công tác thực tiễn: Tham khảo các phân tích bình luận bản án, tình huống thực tế về năng lực bồi thường của người chưa thành niên, trách nhiệm của cơ sở giáo dục/y tế, và việc áp dụng Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP trong giải quyết tranh chấp tại Tòa án địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân biệt yếu tố lỗi trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 như thế nào?
Trong BLDS năm 2005 (và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP), lỗi là một trong bốn điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm BTTH. Đến BLDS năm 2015 (và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP), lỗi không còn là điều kiện bắt buộc người bị thiệt hại phải chứng minh mà được xác định theo nguyên tắc lỗi suy đoán; trách nhiệm phát sinh khi có đủ 3 điều kiện: có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật và có quan hệ nhân quả. Việc "không có lỗi" chỉ được xem xét là căn cứ để giảm mức bồi thường theo khoản 2 Điều 585.
2. Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường được xác định ra sao?
Theo khoản 2 Điều 586 BLDS năm 2015, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nếu có tài sản riêng thì phải tự bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không có tài sản riêng hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải sử dụng tài sản của mình để bồi thường phần còn thiếu.
3. Khi học sinh gây thiệt hại trong thời gian ở trường học, trường học hay cha mẹ phải bồi thường?
Theo Điều 599 BLDS năm 2015, người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học trực tiếp quản lý thì trường học phải bồi thường. Trường học chỉ được miễn trách nhiệm bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý; khi đó, cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh mới phải chịu trách nhiệm bồi thường.
4. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo luật hiện hành là bao lâu?
Theo Điều 588 BLDS năm 2015 và Điều 5 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (áp dụng đối với các vụ việc đương sự khởi kiện từ ngày 01/01/2017).
5. Người bị người khác ép buộc uống rượu say rồi gây thiệt hại thì ai là người phải bồi thường?
Theo khoản 2 Điều 596 BLDS năm 2015, khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì chính người có hành vi cố ý đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bùi Phương Thảo đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP. Công trình làm sáng tỏ sự chuyển biến về việc áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán, các điều kiện phát sinh trách nhiệm và quy tắc phân định năng lực bồi thường theo độ tuổi. Kết hợp phân tích thực tiễn xét xử tại các Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ ngày 01/01/2017 đến nay, khóa luận đã đề xuất các giải pháp lập pháp và thực tiễn có giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác nghiên cứu và áp dụng pháp luật dân sự.