Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống quan hệ pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định trọng tâm, giữ vai trò thiết lập lại trạng thái tài sản và cân bằng lợi ích ban đầu cho chủ thể bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành riêng Chương XX để quy định về chế định này, kế thừa và sửa đổi căn bản so với Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005. Trong toàn bộ chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hoạt động xác định thiệt hại đóng vai trò bản lề, quyết định trực tiếp tới tính chính xác, công bằng và khả thi của phán quyết bồi thường. Dù khung pháp lý hiện hành đã được chi tiết hóa thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn tư pháp, thực tiễn xét xử vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không đồng nhất giữa các cơ quan tài phán. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật kinh tế của tác giả Sầm Thị Hương (Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Huệ, năm 2024) đã lựa chọn đề tài: "Xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015".

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, nội dung và ý nghĩa pháp lý của các quy định hiện hành về xác định thiệt hại; đánh giá khách quan những ưu điểm, tiến bộ cũng như những bất cập còn tồn tại trong quy định và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đưa ra khái niệm và làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  2. Phân tích, làm rõ các quy định pháp luật, cụ thể là các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  3. Nghiên cứu các quy định pháp luật của nước ta về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và chỉ ra những điểm mới mà Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khắc phục được so với các văn bản trước đó.
  4. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tìm hiểu những vướng mắc còn tồn tại và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào hệ thống các quy phạm pháp luật thực định và thực tiễn thi hành các quy định về xác định thiệt hại ngoài hợp đồng. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian gắn liền với địa hạt pháp luật dân sự Việt Nam; phạm vi về thời gian tập trung vào giai đoạn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 đến thời điểm năm 2024, đặt trong sự đối sánh lịch sử với Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005 và các văn bản hướng dẫn áp dụng tương ứng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ phát sinh theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khái niệm thiệt hại theo lý luận luật học. Tác giả tổng thuật và kế thừa quan điểm từ Giáo trình Luật Dân sự Tập 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội, các công trình chuyên khảo của PGS.TS. Phùng Trung Tập (2017) và luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2011) để đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh: Thiệt hại là những tổn thất về mặt vật chất và mặt tinh thần mà một chủ thể phải gánh chịu khi có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm hoặc các lợi ích khác của các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Từ đó, hoạt động xác định thiệt hại được xác định là quá trình do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các chủ thể liên quan thực hiện bằng các biện pháp, cách thức khác nhau nhằm tính toán, xác định chính xác tổn thất xảy ra làm căn cứ ấn định mức bồi thường.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để bóc tách cấu trúc các điều luật, quy phạm pháp luật dân sự và hệ thống hóa các quan điểm lý luận.
  • Phương pháp suy diễn logic: Dùng để liên kết các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự với các quy định cụ thể về từng dạng tổn thất.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đặt các điều khoản của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong mối quan hệ so sánh lịch sử với Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005, đối chiếu với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và đối chiếu giữa văn bản luật với văn bản dưới luật.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống thực tiễn: Viện dẫn, phân tích các tình huống, vụ việc thực tế để minh họa mức độ tương thích giữa quy phạm lý thuyết và quá trình áp dụng pháp luật tại Tòa án.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định (Bộ luật Dân sự các thời kỳ; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 thay thế Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; các văn bản lịch sử như Thông tư 173-TANDTC năm 1972, Thông tư 03-TANDTC năm 1983); các tài liệu khoa học, bài báo trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân và kỷ yếu hội thảo chuyên đề của Bộ Tư pháp và Trường Đại học Luật Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bản chất của hoạt động xác định thiệt hại. Tác giả phân tích 3 đặc điểm bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015: (1) Chỉ phát sinh khi thỏa mãn đầy đủ các yếu tố có hành vi xâm phạm, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả; (2) Mở rộng trách nhiệm đối với trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra mà chủ sở hữu, người chiếm hữu không có lỗi vẫn phải bồi thường (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn của bên bị thiệt hại); (3) Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường không chỉ giới hạn ở người trực tiếp gây ra thiệt hại mà còn bao gồm cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ, hoặc pháp nhân đối với hành vi của người thuộc pháp nhân.

Về phân loại thiệt hại, tác giả hệ thống hóa theo 3 tiêu chí:

  • Căn cứ vào khách thể bị xâm phạm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
  • Căn cứ vào cách xác định: Thiệt hại trực tiếp (những mất mát, hư hỏng hiện hữu tính toán được ngay) và thiệt hại gián tiếp (những tổn thất phát sinh sau đó như thu nhập thực tế bị mất, giảm sút cần có tài liệu chứng minh).
  • Căn cứ vào tính chất: Thiệt hại vật chất (khoản 2 Điều 361) và tổn thất về tinh thần (khoản 3 Điều 361).

Đặc biệt, chương này luận giải sâu sắc 4 nguyên tắc cốt lõi khi xác định thiệt hại căn cứ theo Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  1. Thiệt hại thực tế phải được xác định toàn bộ và kịp thời: Đảm bảo mọi tổn thất vật chất và tinh thần đều được tính toán chính xác, không bỏ sót và xử lý nhanh chóng.
  2. Chú ý đến yếu tố lỗi và trách nhiệm của các bên: Dù lỗi không còn là căn cứ phát sinh trách nhiệm theo Điều 584, nhưng lỗi vô ý hoặc không có lỗi là điều kiện để xem xét giảm mức bồi thường (khoản 2 Điều 585); đồng thời phải loại trừ phần thiệt hại do chính lỗi của bên bị thiệt hại gây ra (khoản 4) hoặc do bên bị thiệt hại không áp dụng biện pháp ngăn chặn cần thiết (khoản 5).
  3. Xem xét căn cứ giảm mức bồi thường: Áp dụng khi người chịu trách nhiệm không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
  4. Mức bồi thường phải phù hợp với thực tế: Phải điều chỉnh linh hoạt khi có sự biến động về kinh tế - xã hội, giá cả thị trường hoặc sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động.

Phần lịch sử lập pháp ghi nhận bước chuyển dịch từ thời phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long quy định mang tính trừng phạt hình sự lồng ghép bồi thường dân sự), thời kỳ Pháp thuộc (sự thiếu thống nhất giữa Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu 1883 với Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Trung Kỳ 1936), giai đoạn 1945–1995 (Nghị định 49-CP năm 1968, Thông tư 173-TANDTC năm 1972 tính giá tài sản theo giá phân phối/điều động nội bộ, Thông tư 03-TANDTC năm 1983 về tai nạn ô tô), cho đến giai đoạn pháp điển hóa hoàn chỉnh qua các Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005 và 2015.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Chương 2 là phần dung lượng trọng tâm, tập trung giải phẫu chi tiết quy chế pháp lý thực định điều chỉnh hoạt động xác định thiệt hại. Tác giả chỉ ra rằng Bộ luật Dân sự năm 2015 không có điều luật riêng quy định cụ thể về chủ thể có thẩm quyền xác định thiệt hại cũng như thời điểm, thời hạn xác định thiệt hại. Để lấp khoảng trống này, trong thực tiễn áp dụng cần viện dẫn khoản 3 Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017: thời hạn xác định thiệt hại được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến khi chấm dứt thiệt hại đó.

Về phương pháp xác định từng dạng thiệt hại, tác giả kết hợp phân tích các điều luật từ Điều 589 đến Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 với văn bản hướng dẫn chuyên ngành là Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP:

  1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589):

    • Tài sản bị mất, hủy hoại: Căn cứ giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn tại thời điểm giải quyết bồi thường (khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP). Đối với tài sản là tiền, thiệt hại là số tiền bị mất/hư hỏng. Đối với giấy tờ có giá, tính theo giá trị tại thời điểm giải quyết bồi thường hoặc chi phí khôi phục (tác giả lưu ý bất cập khi giá cổ phiếu, chứng khoán biến động liên tục).
    • Tài sản bị hư hỏng: Chi phí sửa chữa, khôi phục tình trạng ban đầu theo giá thị trường; nếu không sửa chữa được thì tính như tài sản bị mất, hủy hoại.
    • Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại: Các chi phí thực tế, cần thiết tại thời điểm chi trả trong điều kiện bình thường.
    • Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, giảm sút: Hoa lợi, lợi tức tính theo thực tế đang thu hoặc giá thuê trung bình 1 tháng; trường hợp không có tài sản cho thuê tương đương thì tính theo thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại.
  2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590):

    • Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi chức năng: Chi phí khám chữa bệnh, thuê phương tiện; chi phí bồi dưỡng được định lượng bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng chia cho 26 ngày nhân với số ngày điều trị theo hồ sơ bệnh án.
    • Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại: Tính theo tiền lương thực tế; nếu thu nhập không ổn định thì căn cứ mức trung bình 03 tháng liền kề, hoặc thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương, hoặc 01 ngày lương tối thiểu vùng cho 01 ngày thiệt hại.
    • Chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc: Căn cứ thời gian điều trị thực tế; trường hợp nạn nhân mất khả năng lao động hoàn toàn cần người chăm sóc thường xuyên thì bồi thường 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi cư trú cho mỗi ngày chăm sóc.
    • Tổn thất về tinh thần: Do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (khoản 2 Điều 590).
  3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591):

    • Thiệt hại về vật chất: Bao gồm thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giai đoạn trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng (khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP lập danh mục mở các chi phí hợp lý theo phong tục địa phương và lập danh mục đóng loại trừ: cúng lễ, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ); tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng (tối thiểu không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng cư trú; bổ sung quyền cấp dưỡng cho con đã thành thai sinh ra và còn sống).
    • Tổn thất về tinh thần: Bồi thường cho người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng; mức tối đa do luật định không quá 100 lần mức lương cơ sở (khoản 2 Điều 591).
  4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592):

    • Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất, giảm sút, cùng khoản bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định theo khung luật định.

Bảng so sánh sau đây tổng hợp các mức định lượng cụ thể giữa các dạng thiệt hại nhân thân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản liên quan:

Tiêu chí xác định Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590) Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591) Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592)
Mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa Không quá 50 lần mức lương cơ sở Không quá 100 lần mức lương cơ sở Không quá 10 lần mức lương cơ sở
Mức tiền cấp dưỡng tối thiểu Không quy định trực tiếp (trừ trường hợp mất khả năng lao động) Không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi tháng Không áp dụng
Định mức bồi dưỡng sức khỏe / chăm sóc 01 ngày lương tối thiểu vùng / 26 ngày theo ngày nằm viện Kế thừa chi phí sức khỏe giai đoạn trước khi chết Không áp dụng
Đối tượng thụ hưởng bù đắp tinh thần Trực tiếp người bị thiệt hại Người thân thích hàng thừa kế thứ nhất / người nuôi dưỡng Trực tiếp người bị thiệt hại

Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Chương 3 tổng kết các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện. Tác giả phân tích các xung đột pháp lý điển hình:

  • Xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn: Khoản 2 Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người được cấp dưỡng hưởng tiền từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết; ngược lại, điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP lại quy định thời điểm cấp dưỡng được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khỏe.
  • Xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017: Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mức tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở, trong khi khoản 4 Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 ấn định mức cố định là 360 tháng lương cơ sở, tạo ra khoảng chênh lệch rất lớn giữa hai văn bản luật.
  • Khoảng trống định lượng: Khái niệm "thiệt hại khác do luật quy định" xuất hiện ở cả Điều 589, 590, 591 nhưng chưa có văn bản nào giải thích cụ thể; luật chỉ quy định mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa mà thiếu khung mức tối thiểu, dẫn đến việc Tòa án áp dụng tùy nghi, thiếu căn cứ lượng hóa thống nhất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất, phân tích và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu gắn liền với số liệu quy phạm cụ thể trong văn bản:

  • Làm rõ căn cứ tính toán chi phí bồi dưỡng sức khỏe: áp dụng định mức 01 ngày lương tối thiểu vùng (lương tối thiểu vùng chia cho 26 ngày) cho 01 ngày nằm viện căn cứ hồ sơ bệnh án;
  • Chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong việc thay thế cách tính tổn thất tinh thần từ "tháng lương tối thiểu" theo Bộ luật Dân sự năm 2005 sang "mức lương cơ sở" theo Bộ luật Dân sự năm 2015 (không quá 50 lần mức lương cơ sở đối với sức khỏe và không quá 100 lần mức lương cơ sở đối với tính mạng), tạo sự thống nhất trên phạm vi toàn quốc thay vì chênh lệch giữa các vùng lương;
  • Phân tích cơ chế tính hoa lợi, lợi tức đối với tài sản không có giá cho thuê trên thị trường dựa trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại;
  • Phát hiện và chỉ rõ các điểm mâu thuẫn về mặt kỹ thuật lập pháp giữa Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 với Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP về thời điểm tính tiền cấp dưỡng, và giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về mức bù đắp tổn thất tinh thần (100 lần so với 360 tháng lương cơ sở).

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả đã tự xác định công trình là một trong những nghiên cứu toàn diện, cập nhật các điểm mới của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP trong việc áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015. Khóa luận cung cấp các đề xuất sửa đổi cụ thể nhằm hoàn thiện quy định về chủ thể xác định thiệt hại, cơ chế xử lý biến động giá đối với giấy tờ có giá, và tiêu chí lượng hóa thiệt hại tinh thần trong thực tiễn xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp:

  • Dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các bản án, vụ việc thực tế điển hình và số liệu thứ cấp trích dẫn từ các báo cáo chuyên đề, kỷ yếu hội thảo khoa học của Tòa án nhân dân Tối cao và Trường Đại học Luật Hà Nội; chưa triển khai được phương pháp điều tra xã hội học pháp luật trên diện rộng tại hệ thống Tòa án các cấp.
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào pháp luật thực định Việt Nam, chưa mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu với kinh nghiệm pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (như chế định bồi thường mang tính trừng phạt trong thông luật).

Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả gợi mở là tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động lâu dài của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP trong thực tiễn xét xử giai đoạn từ sau năm 2024; nghiên cứu cơ chế xác định thiệt hại đối với các loại tài sản phi truyền thống, tài sản công nghệ mới và các tranh chấp bồi thường thiệt hại xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Pháp luật kinh tế tham khảo khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về chế định bồi thường thiệt hại. Nội dung Chương 2 của khóa luận đặc biệt có giá trị đối với các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý khi cần tra cứu nhanh các công thức tính toán thực tế (chi phí bồi dưỡng sức khỏe theo hồ sơ bệnh án, xác định thu nhập bị mất của người chăm sóc, các khoản chi phí mai táng được bồi thường và bị loại trừ) dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa khi sức khỏe hoặc tính mạng bị xâm phạm được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như thế nào? Theo khoản 2 Điều 590 và khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015, mức bồi thường do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở, và đối với một người có tính mạng bị xâm phạm là không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

  2. Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được tính toán theo công thức nào theo Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP? Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định chi phí bồi dưỡng sức khỏe được xác định bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh cho 01 ngày khám chữa bệnh theo số ngày ghi trong hồ sơ bệnh án. Trong đó, mức 01 ngày lương tối thiểu vùng được tính bằng 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.

  3. Khóa luận đã chỉ ra điểm mâu thuẫn nào giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP về thời điểm tính tiền cấp dưỡng? Khoản 2 Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống thì người được cấp dưỡng được hưởng tiền "từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết". Tuy nhiên, điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP lại quy định: "Thời điểm cấp dưỡng được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khỏe", dẫn đến sự không thống nhất giữa luật và văn bản hướng dẫn thi hành.

  4. Trường hợp tài sản bị xâm phạm là giấy tờ có giá, phương pháp tính thiệt hại có điểm hạn chế gì được tác giả phân tích? Đối với giấy tờ có giá bị mất hoặc hư hỏng không khôi phục được, thiệt hại được xác định theo giá trị tại thời điểm giải quyết bồi thường. Tác giả chỉ ra rằng các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, chứng khoán có tính chất biến động liên tục theo thị trường; nếu người gây thiệt hại cố tình chọn thời điểm giá trị xuống thấp để giải quyết bồi thường sẽ làm phương hại đến quyền lợi của bên bị thiệt hại mà pháp luật hiện hành chưa có cơ chế điều chỉnh cụ thể.

  5. Các khoản chi phí mai táng nào bị pháp luật loại trừ, không chấp nhận bồi thường theo Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP? Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP quy định danh mục loại trừ không chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với các khoản chi phí: cúng lễ, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Sầm Thị Hương đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, công trình đã làm nổi bật các điểm tiến bộ lập pháp, đồng thời nhận diện chính xác các xung đột và khoảng trống pháp lý trong thực tiễn áp dụng. Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị hoàn thiện được trình bày là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, đào tạo và xét xử dân sự.