Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY Quản trị công ty (Corporate Governance) đã trở thành vấn đề cơ bản trong lĩnh vực Luật Công ty và Luật Chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề quản trị công ty được đặc biệt coi trọng kể từ khi thế giới chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á năm 1997 và sự sụp đổ của hàng loạt các công ty niêm yết tại hàng loạt các nước phát triển như Enron, Tyco, Adelphia và WorldCom (Mỹ); HIH và One. Quản trị công ty không chỉ thu hút sự quan tâm và chú ý của các nước, mà còn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Riêng Tổ chức các nước phát triển (Group of Seven-G7) còn ban hành Bộ nguyên tắc/Điều lệ tốt nhất về quản trị công ty và kế toán. Quản trị công ty "hiệu quả" ("good" corporate governance) được coi như nhân tố cơ bản cho phát triển kinh tế và đổi mới quản trị công ty đang trở thành một mục tiêu tại tất cả các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới. Khái niệm quản trị công ty Quản trị công ty là một chủ đề rộng, mở rộng đến tất cả các khía cạnh có liên quan đến các cổ đông, các nhà quản lý, các kiểm toán viên của một công ty. Định nghĩa về quản trị công ty có thể tìm thấy trong các Quy chế/Điều lệ về quản trị công ty ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế.
John Farrar cho rằng, khái niệm quản trị công ty (corporate governance) được sử dụng lần đầu tiên khoảng 40 năm trước bởi tác giả Richard Eells trong sách "The Governance of Corporations". John Farrar cho rằng, khái niệm quản trị-governance, là một thuật ngữ đến từ ngôn ngữ Latin "gubernare" và "gubernator" với nghĩa chỉ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho việc bánh lái một con tàu và thuyền trưởng của con tầu đó. Tuy nhiên, một vài học giả khác cho rằng, vấn đề quản trị công ty được thảo luận từ những năm 1930 [46]. Về mặt ngôn ngữ, quản trị công ty có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty thường quan tâm đến (i) Các vấn đề của cấu trúc quản lý của công ty, chẳng hạn như mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc; (ii) lợi ích hoặc các mục tiêu của các nhóm trong công ty. Theo nghĩa rộng, quản trị công ty thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó. Theo nghĩa hẹp, Shleifer và Vishy cho rằng "quản trị công ty giải quyết những cách mà theo đó, các nhà cung cấp tài chính cho các công ty muốn rằng bản thân họ sẽ có những lợi ích trở lại với những khoản đầu tư của mình" [48]. Trong khi đó, theo Tomasic, Bottomley và Mc Queen, quản trị công ty lại được hiểu theo nghĩa rộng như là "việc kiểm soát chính thức và không chính thức và cách quản lý công ty bởi các cổ đông bên ngoài" [49].
Tuy nhiên, định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty được nhiều nước vận dụng vào xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty là của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD trong ấn phẩm "Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD" (The OECD Principles of Corporate Governance) được sửa đổi và ban hành lại vào năm 2004. Theo đó, OECD cho rằng: Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty đựợc thực hiện và những biện pháp để đạt được những mục tiêu và khả năng giám sát là được xác định [39, tr. Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh.
Quản trị công ty là một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty. Mối quan hệ này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở. Quản trị công ty tốt thúc đẩy hoạt động của công ty, tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài ở mức chi phí thấp hơn. Với việc tăng cường giá trị của công ty và quản lý rủi ro tốt hơn, quản trị công ty tốt góp phần vào việc tăng cường đầu tư và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, cũng cần có sự phân biệt giữa khái niệm "quản trị công ty" và "quản lý doanh nghiệp". Cụ thể là: - Khi đề cập đến quản lý doanh nghiệp thì người quản lý là chủ thể của nó; còn các nguồn lực khác (nhất là người lao động) là đối tượng quản lý. Người quản lý thực hiện các chức năng quản lý của mình để tổ chức công việc cho người khác và thông qua chính công việc đó của họ để đạt được mục tiêu; tức là tối đa hoá được lợi nhuận trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có được. - Khi nói đến quản trị công ty, người ta chú ý nhiều đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu, cổ đông và những người quản lý (gồm thành viên Hội đồng quản trị và các giám đốc điều hành).
Do đó, khi công ty có quy mô chưa lớn, chưa có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý (chủ sở hữu vẫn trực tiếp quản lý kinh doanh của công ty), thì quản trị và quản lý có ý nghĩa và nội dung tương đồng. Cùng với sự phát triển của một công ty, người chủ sở hữu, cổ đông dần rút khỏi vai trò quản lý, nhường chỗ lại cho đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, những người không nhất thiết là chủ sở hữu. Từ đó, có sự tách biệt thực tế giữa sở hữu và quản lý công ty. Cũng từ đó, nội dung và ý nghĩa của quản trị công ty mở rộng hơn so với quản lý; và trọng tâm của nó là giải quyết "vấn đề đại diện" giữa cổ đông và người quản lý.
Lúc này, chính những người quản lý chuyên nghiệp lại trở thành "đối tượng quản lý" trong quản trị công ty. Vấn đề đại diện ở các công ty xuất hiện khi có sự tách biệt thực tế giữa chủ sở hữu và người quản lý. Chủ sở hữu hay một số hoặc tất cả cổ đông không trực tiếp quản lý công ty; mà công việc đó nằm trong tay đội ngũ những người quản lý chuyên nghiệp. Cũng như trong các trường hợp khác, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản chất của vấn đề đại diện ở các công ty nằm ở sự bất đối xứng thông tin giữa chủ sở hữu, cổ đông và người quản lý.
Những người quản lý công ty có thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác hơn những người chủ sở hữu; và họ cũng có lợi ích không hoàn toàn trùng hợp, tương đồng với lợi ích của chủ sở hữu, cổ đông. Do đó, những người quản lý có thể tận dụng lợi thế này để theo đuổi những lợi ích riêng của họ mà làm thiệt hại đến lợi ích của chủ sở hữu. Ví dụ, họ có thể trả lương cao, các khoản bổng lộc lớn, bảo đảm an toàn cho công việc của chính họ; họ có thể theo đuổi mục tiêu mở rộng quy mô, tăng doanh thu hơn là lợi nhuận của công ty; họ có thể mua sắm các phương tịên xa xỉ, đắt tiền, tuyển dụng số lượng nhân viên quá mức để phục vụ họ; họ có thể chống lại những vụ sáp nhập làm tăng giá trị của công ty, nhưng tạo nguy cơ làm họ mất việc làm. Trọng tâm của quản trị công ty là giải quyết vấn đề đại diện ở công ty như trình bày trên đây; làm cho đội ngũ quản lý phải làm việc phục vụ tốt nhất có thể được cho lợi ích của các cổ đông, chủ sở hữu công ty.
Đó là việc làm không phải không tốn kém chi phí; khoản chi phí đó thường gọi là "chi phí, hay phí tổn đại diện". Thiết lập khung quản trị công ty phù hợp và có hiệu quả nhằm các mục tiêu: - Tạo điều kiện, thúc đẩy nâng cao hiệu quả chung của công ty bằng cách tạo và duy trì các đòn bẩy khuyến khích những người trong nội bộ công ty tối đa hoá hiệu quả kinh doanh, tối đa hoá lợi tức/ tài sản, và nâng cao năng suất lao động; - Hạn chế những người trong nội bộ công ty lạm dụng quyền lực đối với các nguồn lực của công ty dưới các hình thức như: tham ô, bòn rút nguồn lực của công ty sử dụng cho mục đích riêng, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát. - Cung cấp các công cụ giám sát hành vi của người quản lý đảm bảo trách nhiệm giải trình, bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, của xã hội trước những người quản lý nội bộ với chi phí hợp lý. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Báo cáo đánh giá của World Bank: Quản trị công ty đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hướng và kiểm soát các công ty.
Quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan. Quản trị công ty tốt góp phần vào phát triển kinh tế bền vững do cải thiện được hoạt động của các công ty và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó [19, tr. Quản trị công ty theo thông lệ quốc tế Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), để đạt được mục tiêu chính là thu lợi nhuận kinh tế dài hạn, các công ty phải cố gắng có được lợi thế cạnh tranh bền vững. Điều này đòi hỏi mỗi công ty cần có sự linh hoạt trong quản trị để đối phó với những rủi ro tất yếu nảy sinh khi thích ứng nhanh với các cơ hội và thách thức trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi liên tục [57].