Luận Văn Thạc Sĩ Về Giải Quyết Việc Làm Theo Pháp Luật Lao Động Việt Nam Tại Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn tại Đà Nẵng, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

78
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải quyết việc làm

1.1. Khái quát chung về giải quyết việc làm

1.1.1. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm

1.1.1.1. Quan niệm việc làm

2. Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng

3. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiểu quả giải quyết việc làm ở Việt Nam và thực tiễn tại Thành phố Đà Nẵng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Quyết Việc Làm Theo Pháp Luật Lao Động Việt Nam

Giải quyết việc làm là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Tại Đà Nẵng, việc làm không chỉ là một nhu cầu thiết yếu mà còn là một quyền lợi của người lao động. Pháp luật lao động Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, từ đó tạo ra một môi trường làm việc công bằng và hiệu quả.

1.1. Khái Niệm Giải Quyết Việc Làm Trong Pháp Luật Lao Động

Giải quyết việc làm được hiểu là việc tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động, đảm bảo họ có thu nhập ổn định. Theo pháp luật lao động Việt Nam, mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.

1.2. Vai Trò Của Pháp Luật Trong Giải Quyết Việc Làm

Pháp luật lao động đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo họ có cơ hội việc làm và được hưởng các quyền lợi hợp pháp. Điều này không chỉ giúp người lao động có cuộc sống ổn định mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

II. Thách Thức Trong Giải Quyết Việc Làm Tại Đà Nẵng

Mặc dù Đà Nẵng có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng vẫn gặp phải nhiều thách thức trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Tình Trạng Thất Nghiệp Tại Đà Nẵng

Thất nghiệp là một trong những vấn đề nghiêm trọng tại Đà Nẵng, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Nhiều người lao động trẻ không tìm được việc làm phù hợp với trình độ học vấn của họ.

2.2. Thiếu Kỹ Năng Lao Động Phù Hợp

Nhiều lao động tại Đà Nẵng không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm. Việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động là cần thiết để giải quyết vấn đề này.

III. Phương Pháp Giải Quyết Việc Làm Hiệu Quả Tại Đà Nẵng

Để giải quyết vấn đề việc làm tại Đà Nẵng, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả, bao gồm đào tạo nghề, phát triển các chương trình hỗ trợ việc làm và cải thiện môi trường đầu tư.

3.1. Đào Tạo Nghề Cho Người Lao Động

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng giúp người lao động nâng cao kỹ năng và tìm kiếm việc làm. Các trung tâm đào tạo nghề cần được đầu tư và phát triển để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

3.2. Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Trong Tuyển Dụng

Cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động, từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động. Các chương trình hỗ trợ tài chính và tư vấn cũng cần được triển khai.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Giải Quyết Việc Làm Tại Đà Nẵng

Việc áp dụng các giải pháp giải quyết việc làm tại Đà Nẵng đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều chương trình đã được triển khai nhằm hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm và nâng cao kỹ năng.

4.1. Kết Quả Của Các Chương Trình Đào Tạo

Các chương trình đào tạo nghề đã giúp nhiều lao động tìm được việc làm phù hợp, từ đó cải thiện đời sống của họ. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo cũng đã được tăng cường.

4.2. Tác Động Của Chính Sách Hỗ Trợ Việc Làm

Chính sách hỗ trợ việc làm đã giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp tại Đà Nẵng. Nhiều người lao động đã có cơ hội tiếp cận với các chương trình hỗ trợ tài chính và tư vấn nghề nghiệp.

V. Kết Luận Về Giải Quyết Việc Làm Tại Đà Nẵng

Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam tại Đà Nẵng là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần tiếp tục cải thiện các chính sách và chương trình hỗ trợ để đảm bảo mọi người lao động đều có cơ hội việc làm.

5.1. Định Hướng Tương Lai

Trong tương lai, Đà Nẵng cần tiếp tục phát triển các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ doanh nghiệp để tạo ra nhiều việc làm hơn cho người lao động.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Bên Liên Quan

Sự hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội là rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề việc làm. Cần có các cơ chế phối hợp hiệu quả để đạt được mục tiêu chung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls giải quyết việc làm theo pháp luật lao động việt nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố đà nẵng 07

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải quyết việc làm 1. Khái quát chung về giải quyết việc làm 1. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm 1. Quan niệm việc làm Việc làm có thể coi là sự tham gia của một cá thể vào tập hợp các hoạt động có liên quan đến việc sản xuất ra một sản phầm hay dịch vụ nào đó mà người khác có của cải và mong muốn mua được nó.

Việc làm được coi là một trong những vấn đề sống còn của toàn xã hội. Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Có thể nhìn nhận việc làm ở hai góc độ khác nhau: dưới góc độ kinh tế - xã hội và dưới góc độ pháp lý. - Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Với mỗi quốc gia, việc làm là phản ánh quan trọng về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó, nó luôn là vấn đề được xã hội quan tâm hàng đầu không chỉ ở riêng một quốc gia nào mà còn là vấn đề có tính toàn cầu, phản ánh sự phát triển của lao động xã hội.

Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên, đối với con người, kiếm sống không phải là hoạt động sinh vật đơn thuần giúp con người thích ứng với tự nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức, tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội. Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế: “Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11] Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-đôn (Anh): “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những gì quan hệ đến việc kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”. Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sỹ Ê.

Jit-nốp (Liên Xô cũ) lại cho rằng: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của công trang viên”. Đối với Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề cập trong nhiều văn kiện như Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm 1976; Công ước số 22 năm 1964. nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra khái niệm “việc làm”. Đến tận Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các nhà thống kê lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và người thất nghiệp.

Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm. Gần đây nhất, năm 2005, Tổ chức Lao động quốc tế đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm “việc làm”. Theo đó, “Việc làm là một công việc được trả công. Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [21].

Đây là khái niệm ngắn gọn, chỉ chung chung đến những công việc do cá nhân thực hiện cho chính bản thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công. Có thể còn có nhiều khái niệm khác nữa về việc làm. Nhưng dù ở góc độ nào, khái niệm đó đều thể hiện các tiêu chí định danh việc làm là những dạng hoạt động lao động, trong đó có việc người lao động chi phí sức lao động của mình với mục đích giành được lợi ích (thu nhập) nào đó, nhằm thỏa mãn như cầu của bản thân, gia đình và xã hội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động lao động được coi là việc làm có thể được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, đó là: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó; làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân; làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó.

Như vậy, dù ở hình thức nào, được trả thù lao trực tiếp hay gián tiếp, thù lao đó được thể hiện bằng tiền mặt hay lợi ích vật chất khác thì việc làm cũng luôn thể hiện là các hoạt động tiềm tàng khả năng tạo ra lợi ích hay thu nhập cho người bỏ sức lao động tiến hành hoạt động đó. Như vậy, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công nhận. - Dưới góc độ pháp lý: Quyền có việc làm được coi là quyền hiến định của mọi công dân. Tuy nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì mà pháp luật cho phép.

Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên chế Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm chỉnh. Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là quốc doanh và tập thể. Bên cạnh đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế, có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch.

Từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước. Nhà nước lo tất cả mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ tiền lương, các chế độ bảo hiểm xã hội. cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do vậy, khi đề cập đến việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho rằng việc làm trước hết là quyền của người lao động.

Điều 58 Hiến pháp 1980 khẳng định: “công dân có quyền có việc làm”. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế giải quyết việc làm đã có những thay đổi căn bản. Điều 55, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”.

Trong bối cảnh đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã quy định tại Điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” và Điều 5, BLLĐ năm 1994 khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm: “Mọi người đều có quyền có việc làm, lựa chọn việc làm và nghề nghiệp.Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghê và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ”. Xét về mặt lịch sử pháp lý, đây là lần đầu tiên quan niệm về việc làm được ghi nhận trong một văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước. Trước đó, trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực lao động, tuy có ít nhiều đề cập đến vấn đề việc làm nhưng chủ yếu là đề cập ở góc độ các cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động, chứ chưa đưa ra một quan niệm hay định nghĩa chính thức về việc làm. Khái niệm về việc làm được ghi nhận tại BLLĐ năm 1994 vẫn được giữ nguyên qua các lần sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007.

Đến BLLĐ năm 2012, quan niệm về việc làm mặc dù được diễn đạt một cách ngắn gọn hơn nhưng về cơ bản vẫn giống như quan niệm tại Điều 13, BLLĐ năm 1994: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 9). 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, trên cơ sở những quy định của BLLĐ, ta có thể hiểu một cách khái quát nhất: Việc làm là một dạng hoạt động lao động, mang lại thu nhập cho người lao động và được xã hội thừa nhận. Từ quan niệm trên cho thấy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố: Thứ nhất, là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sức lao động của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Thứ hai, việc làm tạo ra thu nhập, điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.

Những hoạt động của con người dù có tiêu tốn sức lực mà không tạo ra thu nhập, tức không vì mục đích kiếm sống thì không được thừa nhận là việc làm. Thứ ba, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính chất pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Quyết Việc Làm Theo Pháp Luật Lao Động Việt Nam Tại Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan đến việc làm tại Đà Nẵng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động cũng như người sử dụng lao động. Tài liệu này không chỉ nêu rõ các quy trình giải quyết việc làm mà còn chỉ ra những thách thức mà người lao động có thể gặp phải trong quá trình tìm kiếm việc làm hợp pháp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến việc làm và chính sách lao động, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh nhận diện và tháo gỡ những rào cản trong hoạt động của các sàn giao dịch việc làm thuộc sở lao động thương binh xã hội hà nội, nơi cung cấp giải pháp cho các rào cản trong giao dịch việc làm. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố phủ lý tỉnh hà nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách hỗ trợ người lao động trong bối cảnh thu hồi đất. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học thoả ước lao động tập thể nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động việt nam và thụy điển sẽ mang đến cái nhìn so sánh về pháp luật lao động giữa Việt Nam và Thụy Điển, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về hệ thống pháp luật lao động.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến việc làm và pháp luật lao động.