Phần mở đầu Chƣơng 1: Khái luận về lao động, việc làm, thị trƣờng lao động, và Sàn giao dịch việc làm. Chƣơng 2: Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm thuộc Sở lao động thƣơng binh và xã hội Hà Nội - Thực trạng và những rào cản. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, mục tiêu và giải pháp tháo gỡ những rào cản trong hoạt động của sàn giao dịch việc làm Hà Nội. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
KHÁI LUẬN VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM, THỊ TRƢỜNG LAO ĐỘNG VÀ SÀN GIAO DỊCH VIỆC LÀM. Khái luận về lao động, việc làm, thị trƣờng lao động 1. Lao động, nguồn lao động, lực lượng lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con ngƣời sử công cụ lao động tác động lên đối tƣợng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con ngƣời.
Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài ngƣời, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào. Nhƣ vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con ngƣời. Con ngƣời với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trƣớc hết giải phóng ngƣời lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con ngƣời. Vai trò của ngƣời lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nƣớc nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng. Phân loại lao động theo thời gian lao động gồm hai loại nhƣ sau: Lao động thƣờng xuyên trong danh sách: là lực lƣợng lao động do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lƣơng gồm: công nhân sản xuất kinh doanh cơ bản và nhân viên thuộc các hoạt động khác. Lao động ngoài danh sách: là lực lƣợng lao động làm việc tại các doanh nghiệp do các ngành khác chi trả lƣơng nhƣ cán bộ chuyên trách đoàn thể, học sinh, sinh viên thực tập.
Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất gồm: lao động trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp sản xuất. Lao động trực tiếp sản xuất: là những ngƣời trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc nhiệm vụ nhất định: Trong lao động trực tiếp đƣợc phân 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại nhƣ sau: Theo nội dung công việc mà ngƣời lao động thực hiện thì lao động trực tiếp đƣợc chia thành: lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động phụ trợ khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp đƣợc chia thành các loại sau: Lao động có tay nghề cao: bao gồm những ngƣời đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. Lao động có tay nghề trung bình: bao gồm những ngƣời đã qua đào tạo qua lớp chuyên môn nhƣng có thời gian làm việc thực tế tƣơng đối dài đƣợc trƣởng thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế.
Lao động phổ thông: lao động không phải qua đào tạo vẫn đƣợc. Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động gián tiếp gồm những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Lao động gián tiếp đƣợc phân loại nhƣ sau: Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn loại lao động này đƣợc phân chia thành nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.
Điều 6, Bộ Luật Lao động của Nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (đã đƣợc Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994), quy định: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Nhƣ vậy, ngƣời lao động là những ngƣời phải đủ 15 tuổi trở lên, là những ngƣời có sức khoẻ, có khả năng dùng sức lao động của mình để tham gia các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần cho xã hội. Với mức xác định biên độ tuổi nhƣ trên cho thấy, dân số trong độ tuổi lao động kể cả những ngƣời nghỉ hƣu nhƣng còn khả năng lao động cũng đƣợc xác định là ngƣời lao động. Điều này cho phép chúng ta có thể tận dụng và phát huy tối đa nguồn nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp đƣợc chia thành nhƣ sau. Chuyên viên chính: là những ngƣời có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp. Chuyên viên: là những ngƣời lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác dài, có trình độ chuyên môn cao. Cán sự: là những ngƣời lao động mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác nhiều.
Nhân viên: là những 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp có thể đã qua đào tạo các trƣờng chuyên môn, nghiệp vụ hoặc chƣa đào tạo. Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lƣợng và thành phẩm lao động, về trình độ nghề nghiệp của ngƣời lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động lập kế hoạch lao động. Mặt khác, thông qua phân loại lao động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chí phí nhân công trong chi phí sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch quỹ lƣơng và thuận lợi cho công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và dự toán này. Nguồn lao động là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ( theo quy định của nhà nƣớc: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55.
Vậy “nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”. Sơ đồ phân loại dân số và Nguồn lao động Tổng dân số Dân số trong Dân số ngoài độ độ tuổi lao tuổi LĐ động Dân số hoạt Dân số động kinh tế không hoạt động kinh tế Có việc Thất Ngƣời có Ngƣời mất làm nghiệp khả năng khả năng lao động lao động Đủ Thi Dài Ngắ việc ếu hạn n làm việc hạn làm Nguồn lao14động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại dân số và nguồn lao động Nguồn lao động luôn đƣợc xem xét trên 2 mặt biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng. Xét về mặt số lƣợng, nguồn lao động bao gồm: Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm.
Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những ngƣời thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những ngƣời nghỉ hƣu trƣớc tuổi quy định). Chất lƣợng của nguồn lao động về cơ bản đƣợc đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của ngƣời lao động. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế. Đa số các nƣớc quy định cận dƣới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi…).
Ở nƣớc ta, theo quy định của Luật Lao động (1994), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm. Lực lƣợng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Ở nƣớc ta hiện nay, lực lƣợng lao động đƣợc xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ngƣời thất nghiệp.
Lực lƣợng lao động theo quan niệm nhƣ trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội. Muốn có thông tin chính xác về số lƣợng và cơ cấu lao động cần phải phân loại lao động. Trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì việc phân loại lao động không giống nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý lao động trong điều kiện củ thể của toàn doanh nghiệp. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Việc làm, thất nghiệp Theo quan niệm trong Đại từ điển kinh tế thị trƣờng, “Việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh” [21, tr. Với quan niệm này, việc làm đƣợc coi là quá trình hoạt động sản xuất của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa của nƣớc ta hiện nay, để phát huy tốt các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, với quan niệm trên, có rất nhiều hoạt động lao động của ngƣời lao động sẽ không đƣợc xem là việc làm. Ví dụ nhƣ những hoạt động: bảo đảm sự ổn định phát triển của xã hội, hỗ trợ cho những ngƣời thân tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh.
để có thu nhập ổn định không đƣợc tính đến.