Tổng quan nghiên cứu

Lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận 5 bản Hiến pháp qua các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Trong hệ thống chính trị - pháp lý, Hiến pháp luôn giữ vị trí là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao nhằm tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiến tại Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu vắng một cơ quan tài phán hiến pháp chuyên trách độc lập. Khi Hiến pháp năm 2013 chính thức có hiệu lực, quy định thành lập Hội đồng Hiến pháp trong dự thảo sửa đổi đã không được thông qua, khiến cơ chế bảo vệ Hiến pháp về cơ bản vẫn duy trì mô hình phân tán truyền thống.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất của vi phạm Hiến pháp, nhận diện các chủ thể có khả năng vi hiến, đánh giá toàn diện những bất cập của cơ chế bảo hiến hiện hành và giải mã nguyên nhân Quốc hội chưa thể thiết lập một thiết chế bảo hiến riêng biệt. Mục tiêu cụ thể của công trình là đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đổi mới hoạt động giám sát tính hợp hiến và kiến tạo lộ trình xây dựng mô hình tài phán phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát các quy định hiến định và thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam từ năm 1980 đến năm 2014, đặt trong sự so sánh tham chiếu với kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia như Đức, Pháp và Hoa Kỳ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đóng góp trực tiếp vào lộ trình hoàn thiện 29 đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước và 12 đạo luật chuyên ngành về quyền con người sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành, hướng tới mục tiêu nâng cao 100% hiệu lực tối thượng của Hiến pháp trong đời sống xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng của Chủ nghĩa Hiến pháp (Constitutionalism) và học thuyết Nhà nước pháp quyền (The Rule of Law) được khởi xướng từ thế kỷ XIX bởi các nhà tư tưởng kinh điển như Montesquieu và James Madison. Cốt lõi của lý thuyết này xác định Hiến pháp là một bản khế ước xã hội bắt nguồn từ chủ quyền nhân dân, có sứ mệnh tối thượng là giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ nhân quyền và quyền tự do công dân. Bên cạnh đó, tác giả tiếp thu lý thuyết phân chia và kiểm soát quyền lực của học giả Maurice Duverger, nhấn mạnh sự phân biệt rành mạch giữa quyền lập hiến (nguyên thủy, vô hạn chế của nhân dân) và quyền được lập ra (lập pháp, hành pháp, tư pháp).

Ba mô hình bảo hiến điển hình trên thế giới được sử dụng làm khung tham chiếu, bao gồm:

  1. Mô hình bảo hiến tập trung (kiểu Châu Âu lục địa): Trao thẩm quyền phán quyết tính hợp hiến cho một cơ quan chuyên trách duy nhất như Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Hiến pháp.
  2. Mô hình bảo hiến phi tập trung (kiểu Hoa Kỳ): Giao cho hệ thống Tòa án tư pháp thông thường quyền xem xét tính hợp hiến thông qua việc giải quyết các vụ án cụ thể.
  3. Mô hình bảo hiến hỗn hợp: Kết hợp thẩm quyền giữa Tòa án tối cao và cơ quan tài phán chuyên trách.

Bên cạnh đó, luận văn làm sâu sắc 4 khái niệm nền tảng: Bảo hiến (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp), Vi phạm Hiến pháp (dưới dạng hành động và không hành động), Thể chế bảo hiến và Phương thức vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực, bao gồm toàn văn 5 bản Hiến pháp Việt Nam, hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư), cùng hơn 15 công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế về tài phán hiến pháp.

Cỡ mẫu nghiên cứu định tính bao gồm 20 văn bản pháp luật và sự kiện pháp lý điển hình có dấu hiệu xung đột hiến pháp trong giai đoạn 1980 - 2014, cùng 3 mô hình bảo hiến tiêu biểu tại Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Pháp. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích (purposive sampling), tập trung vào các trường hợp bộc lộ rõ nét xung đột giữa văn bản dưới luật với quyền hiến định của công dân.

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp quy phạm pháp luật, phân tích thể chế và phân tích tình huống thực tiễn. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách một cách khách quan tính chất phân tán của cơ chế bảo hiến hiện nay, đối chiếu sự tương thích giữa mô hình tổ chức quyền lực của Việt Nam với các chuẩn mực pháp quyền hiện đại. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai xuyên suốt giai đoạn 2012 - 2014, trùng khớp với thời điểm tổng kết Hiến pháp 1992 và thông qua Hiến pháp 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay là cơ chế bảo hiến phi tập trung mang tính hành chính, phân tán quyền hạn cho hơn 8 nhóm cơ quan và chức danh nhà nước khác nhau (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp). Việc không có một cơ quan chuyên trách độc lập dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo thẩm quyền, làm suy giảm nghiêm trọng hiệu lực bảo hiến.

Thứ hai, tồn tại nghịch lý lớn trong cơ chế kiểm soát khi Quốc hội vừa là cơ quan nắm quyền lập pháp, vừa thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp. Thực tế chứng minh Quốc hội là chủ thể có nguy cơ ban hành các quy định vi hiến cao nhất, nhưng cơ chế tự giám sát ("vừa đá bóng, vừa thổi còi") khiến 100% các văn bản luật có dấu hiệu mâu thuẫn với Hiến pháp chưa từng bị Quốc hội chính thức bãi bỏ. Chẳng hạn, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 quy định thu viện phí trong khi Hiến pháp 1980 khẳng định khám chữa bệnh không mất tiền, hay Luật Đầu tư nước ngoài 1987 công nhận sở hữu tư nhân trước khi Hiến pháp 1980 được sửa đổi.

Thứ ba, vi phạm Hiến pháp dưới dạng không hành động diễn ra phổ biến và kéo dài. Khoảng 29 đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước và 12 đạo luật liên quan đến quyền cơ bản của con người (như Luật Biểu tình, Luật Lập hội, Luật Trưng cầu ý dân) bị chậm trễ ban hành suốt hơn 20 năm thực hiện Hiến pháp 1992, dẫn đến việc các quyền hiến định của công dân bị "treo" trên thực tế.

Thứ tư, các cơ quan hành pháp và chính quyền địa phương thường xuyên ban hành văn bản dưới luật xâm phạm quyền công dân. Ví dụ thực tế rõ nét là Thông tư 02/2003/TT-BCA của Bộ Công an khống chế mỗi công dân chỉ được đăng ký 1 xe máy (trái Điều 58 Hiến pháp 1992), mất tới 2 năm (đến năm 2005) mới được bãi bỏ; hoặc Nghị quyết 23/2011/NQ-HĐND của thành phố Đà Nẵng hạn chế đăng ký thường trú nội thành (trái Điều 68 Hiến pháp 1992).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ sự chi phối của mô hình quyền lực tập trung và nhận thức chưa đầy đủ về Chủ nghĩa Hiến pháp. Nhiều thập kỷ qua, hệ thống công quyền vẫn duy trì tư duy coi Hiến pháp chỉ là cương lĩnh chính trị mang tính định tính, áp dụng cho nhân dân thay vì nhìn nhận Hiến pháp là công cụ pháp lý tối thượng để giới hạn quyền lực của chính quyền. Ngoài ra, Hiến pháp Việt Nam chưa được thừa nhận hiệu lực áp dụng trực tiếp tại các phiên tòa; Tòa án và các cơ quan tố tụng chưa từng viện dẫn trực tiếp điều khoản Hiến pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, tại Pháp, mặc dù sau khi ban hành Hiến pháp 1949, tỷ lệ công dân khởi kiện thắng kiện về vi hiến tại cơ quan tài phán ban đầu chỉ đạt khoảng 1,5%, nhưng con số này đã tạo ra sức mạnh răn đe to lớn, buộc các cơ quan công quyền phải tuyệt đối tôn trọng quyền con người.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô tả sinh động qua Bảng phân loại 8 nhóm chủ thể có thẩm quyền bảo hiến tại Việt Nam đối chiếu với thẩm quyền tài phán thực tế, kết hợp với Biểu đồ phân bổ tiến độ xây dựng 41 đạo luật (gồm 29 luật tổ chức và 12 luật quyền con người) cần hoàn thiện sau Hiến pháp 2013. Bảng và biểu đồ này sẽ phản ánh trực quan khoảng trống quyền lực khi cơ chế giám sát hành chính không thể thay thế được chức năng tài phán hiến pháp độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập lộ trình xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách độc lập: Quốc hội cần chủ trì nghiên cứu và chuẩn bị cơ sở pháp lý trong giai đoạn 2020 - 2025 để tiến tới thành lập Hội đồng Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp chuyên trách. Thiết chế này có nhiệm vụ phán quyết độc lập về tính hợp hiến của các đạo luật, điều ước quốc tế, giải quyết xung đột thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực và xử lý 100% các khiếu kiện vi hiến do cơ quan hoặc công dân yêu cầu.

  2. Hoàn thiện hệ thống luật thực thi quyền con người và tổ chức bộ máy: Chính phủ và Quốc hội cần phối hợp đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, phấn đấu ban hành toàn bộ 12 đạo luật về quyền con người (Luật Biểu tình, Luật Lập hội, Luật Tiếp cận thông tin...) và 29 đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn 2015 - 2020, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng chậm trễ cụ thể hóa các điều khoản hiến định.

  3. Trao quyền viện dẫn và áp dụng trực tiếp Hiến pháp cho hệ thống Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao chủ trì ban hành nghị quyết hướng dẫn các cấp Tòa án áp dụng trực tiếp quy định của Hiến pháp trong xét xử từ năm 2016. Thẩm phán được quyền dừng xét xử và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ áp dụng các văn bản dưới luật trái Hiến pháp, đảm bảo ít nhất 80% vụ việc xâm phạm quyền cơ bản được bảo vệ kịp thời.

  4. Kích hoạt và chuyên nghiệp hóa thẩm quyền giải thích Hiến pháp: Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần thành lập tiểu ban chuyên trách giải thích Hiến pháp và pháp luật từ năm 2015, xử lý dứt điểm 100% các yêu cầu giải thích quy phạm khi có sự mâu thuẫn giữa luật và Hiến pháp, khắc phục triệt để tình trạng bỏ trống quyền năng hiến định này.

  5. Mở rộng quyền tiếp cận công lý hiến pháp cho công dân: Hoàn thiện cơ chế cho phép công dân và các tổ chức xã hội gửi kiến nghị về các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi hiến lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc cơ quan tài phán tương lai, đảm bảo tỷ lệ phản hồi và xử lý văn bản sai phạm đạt trên 90%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Đại biểu Quốc hội và cán bộ làm công tác lập pháp: Tiếp cận cơ sở lý luận vững chắc và các tiêu chí đánh giá tính hợp hiến của dự thảo luật, giúp phát hiện và ngăn chặn nguy cơ vi hiến ngay từ khâu soạn thảo văn bản, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật học: Sử dụng công trình như một tài liệu chuyên khảo sâu sắc phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các học phần Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp Việt Nam, Luật So sánh và Lịch sử Lập hiến.

  3. Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư: Nắm bắt phương pháp luận về bảo vệ quyền hiến định, nâng cao kỹ năng viện dẫn nguyên tắc Hiến pháp để bào chữa, tranh tụng và bảo vệ độc lập xét xử tại Tòa án theo đúng tinh thần cải cách tư pháp.

  4. Cán bộ tham mưu pháp chế tại các Bộ, Ngành và chính quyền địa phương: Nhận diện rõ ranh giới thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, từ đó chủ động rà soát, loại bỏ các quy định mang tính "giấy phép con" hoặc hạn chế trái phép quyền tự do kinh doanh và cư trú của người dân.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay được gọi là mô hình phân tán? Cơ chế hiện hành giao chức năng giám sát hiến pháp cho hơn 8 nhóm cơ quan như Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án và HĐND các cấp. Việc phân bổ quyền lực rải rác mà không có một cơ quan tài phán chuyên trách độc lập khiến thẩm quyền bị chồng chéo và thiếu chế tài xử lý quyết liệt.

  2. Người dân bình thường có thể là chủ thể của hành vi vi phạm Hiến pháp hay không? Theo luận văn, người dân bình thường không thể là chủ thể vi phạm Hiến pháp mà chỉ có thể vi phạm pháp luật thông thường. Hiến pháp là văn bản giới hạn quyền lực nhà nước, do đó chủ thể vi phạm Hiến pháp chủ yếu là các cơ quan, cán bộ công quyền nắm giữ quyền lực nhà nước được Hiến định.

  3. Tại sao Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thể thành lập Hội đồng Hiến pháp vào năm 2013? Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện chính trị, nhận thức lý luận và truyền thống pháp lý tập quyền xã hội chủ nghĩa tại thời điểm đó chưa đạt được sự đồng thuận cao, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực từng bước vững chắc.

  4. Hành vi chậm ban hành luật có bị xem là vi phạm Hiến pháp không? Có. Luận văn khẳng định việc cơ quan có thẩm quyền chậm trễ hoặc không ban hành 12 đạo luật về quyền con người và 29 luật tổ chức bộ máy để cụ thể hóa Hiến pháp chính là hành vi vi phạm Hiến pháp dưới dạng không hành động, làm "treo" quyền hiến định của người dân.

  5. Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay có quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến không? Hiện tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam chưa có quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến. Hệ thống Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử theo quy định của luật và chưa được trao thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật như mô hình tài phán tại Hoa Kỳ hay Đức.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tính cấp thiết của việc bảo vệ tính tối thượng của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Công trình chỉ rõ bản chất vi hiến chủ yếu xuất phát từ phía các cơ quan công quyền và phân loại thành công hai dạng hành vi: hành động và không hành động.
  • Luận giải sâu sắc những bất cập của mô hình bảo hiến phân tán, chỉ ra nghịch lý "vừa đá bóng, vừa thổi còi" trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.
  • Xác lập hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, thúc đẩy ban hành 41 đạo luật then chốt và đề xuất lộ trình thành lập thiết chế bảo hiến độc lập.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học giá trị cho lộ trình cải cách lập pháp và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Hiến pháp và mở rộng đối thoại khoa học về mô hình tài phán chuyên trách là nhiệm vụ then chốt cần được các nhà lập pháp và giới học thuật quan tâm triển khai ngay hôm nay.