Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI QUẢN LÝ CÔNG TY 1. Quan niệm về nghĩa vụ Theo Bộ luật dân sự 2005, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ hoặc thụ trái) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể (bên có quyền hoặc trái chủ). Định nghĩa này nhắc đến các chủ thể của nghĩa vụ và các đối tượng của nghĩa vụ như vậy là không mang tính khái quát cao và không nhấn mạnh được bản chất của nghĩa vụ là một mối quan hệ mà trong đó có hai loại chủ thể có lợi ích trái ngược nhau. Một bên có quyền yêu cầu, là trái chủ và bên còn lại có nghĩa vụ, là thụ trái.
Nghĩa vụ, hay trái quyền, là mối quan hệ trong đó trái chủ có quyền yêu cầu thụ trái thực hiện một đối tượng vì lợi ích của mình. Đối tượng đó có thể là vật hoặc hành vi hành động hoặc hành vi không hành động, như đã miêu tả trong Điều 280 của Bộ luật dân sự 2005. TS Ngô Huy Cương, nghĩa vụ dân sự có ba đặc điểm quan trọng [2]. Thứ nhất, nghĩa vụ là một quan hệ pháp lý, đặc trưng bởi khả năng cưỡng chế thi hành bằng quyền lực nhà nước.
Hai thành tố được pháp luật công nhận và có giá trị cưỡng bức thi hành giúp phân biệt nghĩa vụ dân sự với nghĩa vụ tự nhiên, khi mà nghĩa vụ tự nhiên có thể được công nhận nhưng không thể cưỡng bức thi hành. Thứ hai, nghĩa vụ là quan hệ đối nhân. Yếu tố đối nhân có nghĩa là thay vì áp đặt một nghĩa vụ đối với mọi người nói chung như quan hệ đối vật, quan hệ đối nhân chỉ áp đặt nghĩa vụ đối với một người xác định. Quyền sở hữu là dạng quan hệ đối vật, có thể đối kháng chống lại khả năng sở hữu của của tất cả mọi người trên vật thuộc sở 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hữu của mình; trong khi đó, nghĩa vụ là quan hệ đối nhân, ví dụ như nghĩa vụ trả tiền, trong quan hệ đó, người trái chủ chỉ có thể đòi người thụ trái trả tiền cho mình chứ không thể đòi bất cứ ai khác.
Thứ ba, nghĩa vụ là một quyền sản nghiệp, hay nói cách khác, quan hệ tài sản. Đặc điểm này có nghĩa là nghĩa vụ có thể trị giá được bằng tiền, trong đó, khi người thụ trái thực hiện nghĩa vụ thì người trái chủ sẽ được hưởng các lợi ích từ việc thực hiện đó. Các lợi ích, theo cách thông thường nhất là tài sản, có thể trị giá được bằng tiền. Tuy nhiên, cũng có những lợi ích khó hoặc không thể định lượng giá trị bằng tiền bạc và trên cơ sở nhận định của nhiều luật gia Nhật Bản cho rằng các hành vi không được trị giá thành tiền không nhất thiết thuộc phạm trù đạo đức, Điều 399 của Bộ Luật Dân Sự của Nhật Bản có quy định rằng đối tượng của nghĩa vụ có thể là những gì không xác định được bằng tiền.
Quan niệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi soi chiếu vào đối tượng nghiên cứu của luận văn này, nghĩa vụ của người quản lý công ty, sẽ được phân tích ở phần sau. Nguồn gốc của nghĩa vụ Nghĩa vụ có thể được xuất phát từ ba nguồn gốc chính, đó là hành vi pháp lý, sự kiện pháp lý và hiệu lực của luật. Hành vi pháp lý có thể bao gồm hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, có thể hiểu là làm phát sinh nghĩa vụ trên cơ sở ý chí của các chủ thể. Sự kiện pháp lý là những gì xảy ra ngoài ý chí của các đương sự và làm phát sinh nghĩa vụ cho các chủ thể.
Cuối cùng, hiệu lực của luật là các trường hợp mà nhà làm luật, trên cơ sở nhu cầu quản lý trật tự xã hội, thừa nhận các giá trị đạo đức hoặc cách thức xử sự hoặc các nguyên nhân khác làm phát sinh nhu cầu lập pháp mà quy định nghĩa vụ cho các chủ thể. Phân loại nghĩa vụ Có nhiều cách thức phân loại nghĩa vụ khác nhau dựa trên các tiêu chí 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân loại. Có những cách thức được phản ánh trong các đạo luật nhưng cũng có những cách thức chỉ được sử dụng trong học thuật. Cách thức phân loại nghĩa vụ được sử dụng trong đạo luật cũng sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc các quy định liên quan.
Các cách thức phân loại thường thấy nhất bao gồm (i) phân loại theo hiệu lực; (ii) phân loại theo nguồn gốc; (iii) phân loại theo đối tượng và (iv) phân loại theo mức độ. Phân loại nghĩa vụ theo hiệu lực cho ta các loại nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ dân sự mà trong đó, chỉ duy nhất nghĩa vụ dân sự có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý. Phân loại theo nguồn gốc chia nghĩa vụ ra nghĩa vụ từ hành vi pháp lý, nghĩa vụ từ sự kiện pháp lý và nghĩa vụ do hiệu lực của luật. Đây là cách thức phân loại căn bản nhất thường được phản ánh trong các bộ luật dân sự của các nước trên thế giới.
Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó khi thiết lập quy chế riêng cho từng loại nguồn gốc của nghĩa vụ như: hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền, được lợi không có căn cứ pháp luật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Phân loại nghĩa vụ theo đối tượng là cách thức như được ghi nhận trong Điều 280 của Bộ Luật Dân Sự 2005. Theo đó, nghĩa vụ có ba loại đối tượng là (i) chuyển giao vật, (ii) hành động (thực hiện hành vi) và (iii) không hành động (không thực hiện hành vi). Phân loại nghĩa vụ theo mức độ.
Đây là cách thức phân loại nghĩa vụ ra đời sau, tuy nhiên lại mang ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong nghiên cứu nghĩa vụ của người quản lý công ty. Tiêu chí này phân chia nghĩa vụ thành nghĩa vụ thành quả và nghĩa vụ mẫn cán, trung thực. Cách thức phân loại này không hề được đề cập trong Bộ Luật Dân Sự 2005 của Việt Nam, vốn được xem là văn bản đặt nền tảng lí luận cho toàn bộ hệ thống luật tư. Thay vào đó, một cách đáng ngạc nhiên, Luật Thương Mại 2005, tại Điều 79 và Điều 80 đã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com áp dụng cách phân loại này.
Theo đó, nghĩa vụ của theo kết quả công việc được mô tả là yêu cầu bên thụ trái đạt được một kết quả nhất định theo hợp đồng hoặc kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường; Trong khi đó, cách thức ở Điều 80 yêu cầu người thụ trái thực hiện nghĩa vụ với nỗ lực và khả năng cao nhất. Cách thức phân loại này tạo ra sự khác biệt lớn khi phải chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ. Đối với nghĩa vụ thành quả, vì người thụ trái đã cam kết một kết quả nhất định, người trái chủ chỉ cần chứng minh rằng kết quả không đạt được thì có nghĩa rằng người thụ trái đã vi phạm nghĩa vụ. Đối với nghĩa vụ mẫn cán, trung thực, thay vì bắt người thụ trái phải chứng minh mình đã thực hiện nghĩa vụ với khả năng cao nhất, gánh nặng chứng minh thuộc về trái chủ khi phải chứng minh người thụ trái đã không thực hiện nghĩa vụ một cách cẩn trọng và siêng năng.
Chế tài do vi phạm nghĩa vụ Sự vi phạm nghĩa vụ sẽ dẫn đến các chế tài. Thông thường, các chế tài này hướng đến việc bù đắp cho sự vi phạm theo một trong ba cách thức truyền thống là (i) bồi thường thiệt hại, (ii) buộc thực hiện nghĩa vụ hoặc (iii) buộc thực hiện nghĩa vụ thay thế. Mô hình quản trị công ty và ngƣời quản lý công ty 1. Về mối quan hệ giữa công ty và người quản lý công ty Về mối quan hệ giữa công ty và người quản lý công ty, trên thế giới có hai lý thuyết nổi bật nhất, đó là lý thuyết đại diện (agency theory) và lý thuyết người quản gia (stewardship theory).
Lý thuyết đại diện dường như chiếm ưu thế, được nghiên cứu bởi nhiều học giả trên thế giới bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 20 cho đến tận ngày nay. Lý thuyết đại diện cho rằng mối quan hệ giữa công ty và người quản lý công ty là mối quan hệ đại diện mà trong đó những người chủ sở hữu ủy quyền cho những người quản lý công ty thực hiện việc quản lý công ty thay họ, bao gồm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty [5]. Lý thuyết đại diện cho rằng, người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của của những người chủ sở hữu công ty vì cả hai bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Cộng hưởng với sự phân hóa giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty hiện đại, sự không đồng nhất về lợi ích giữa chủ sở hữu công ty và người quản lý công ty sẽ dẫn đến nhu cầu giám sát những người quản lý công ty.
Lý thuyết này cũng phù hợp với những nhận định thường được đề cập như bản chất của con người khi mô tả nguồn gốc ra đời của hiến pháp và cơ chế tam quyền phân lập, đó là sự tha hóa bởi quyền lực hay “nhân chi sơ, tính bản ác”. Ngược lại, lý thuyết người quản gia cho rằng người quản lý công ty khi được tự do hành động thì sẽ hành động giống như người quản gia đối với các tài sản mà họ được trao quyền quản lý. Xuất phát từ nhận định công ty không chỉ thuần túy hướng tới mục đích lợi nhuận mà còn có những mục tiêu cao cả hơn, lý thuyết người quản gia cho rằng các mục tiêu này thúc đẩy người quản lý công ty hành động tốt hơn. Chính vì vậy, lý thuyết người quản gia tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho người quản lý công ty theo đuổi các mục đích cao cả đó.
Lý thuyết này phải gánh chịu nhiều chỉ trích do xem xét mối quan hệ giữa công ty và người quản lý như một mối quan hệ tĩnh với nhiều yếu tố phải cố định.