Chương 1: Khái quát chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và một số kiến nghị. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Để hiểu đúng, đầy đủ và chính xác về người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) của doanh nghiệp, trước hết phải tìm hiểu định nghĩa về đại diện, đại diện theo pháp luật trong Bộ Luật Dân sự (BLDS). Bởi BLDS là luật gốc điều chỉnh các quan hệ về dân sự mà một trong số đó là quan hệ về đại diện.
Vấn đề đại diện trong BLDS được xem là vấn đề gốc, hình thành nên đại diện theo ủy quyền và đại diện theo pháp luật, chi phối các quy định trong Luật Doanh nghiệp (LDN) về đại diện. Do đó, tác giả phân tích vấn đề đại diện trong BLDS trước khi tìm hiểu về NĐDTPL của doanh nghiệp theo quy định của LDN hiện hành. Để thỏa mãn các nhu cầu trong đời sống hằng ngày, con người phải tham gia vào rất nhiều giao dịch khác nhau. Khi tham gia vào một mối quan hệ nào đó như dân sự, thương mại, kinh tế,., ngoại trừ các trường hợp pháp luật bắt buộc người xác lập giao dịch phải tự mình bày tỏ ý chí một cách tự nguyện, thì chủ thể có thể bày tỏ ý chí thông qua vai trò của một người khác trong trường hợp họ không thể tự mình hoặc không muốn tự mình tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự.
Trong những trường hợp đó, để đảm bảo hiệu lực của các giao dịch dân sự thì việc xác lập, thực hiện các giao dịch của các chủ thể phải được thực hiện thông qua người đại diện. Quan hệ đại diện cũng được hình thành từ đó. Đại diện như là một phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự thông qua vai trò của người khác. Thông qua chế định đại diện, quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện được đảm bảo1.
Đại diện là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự nên BLDS năm 2015 đã dành một chương riêng để quy định về đại diện. Tại khoản 1 Điều 134 BLDS quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Mục đích của việc xác lập quan hệ đại diện là nhằm giúp người được đại diện giao dịch với bên thứ ba thông qua 1 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.
6 người đại diện. Theo đó, người đại diện sẽ nhân danh người được đại diện xác lập các quyền và nghĩa vụ với người thứ ba, từ đó làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện. Với quy định này, người đại diện sẽ là người trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, chứ không phải nhân danh và vì lợi ích của chính người đại diện. Khác với người đại diện, người được đại diện không tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đáp ứng thông qua hành vi của người đại diện.
Do vậy, trong phạm vi và thời hạn đại diện, mọi giao dịch dân sự được xác lập giữa người đại diện với người thứ ba đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện. Với điều kiện là giao dịch dân sự đó phải ghi chủ thể là người được đại diện, vì một người dù được chỉ định đại diện và đã giao kết hợp đồng trong phạm vi thẩm quyền của mình, nhưng nếu không hành động bằng tên của người được đại diện thì không làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện. Khái niệm này đã nhấn mạnh trách nhiệm trung thành của người đại diện khi đề cập đến vấn đề “vì lợi ích của người được đại diện”, từ đó tạo ra một cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự không vì lợi ích của người được đại diện. Trong quan hệ này, các bên chủ thể có thể là bất kì chủ thể nào mà không hạn chế là cá nhân hay pháp nhân, tổ chức2.
Đối với cá nhân, nếu là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ các trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch 3, thì cá nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện nếu họ không muốn trực tiếp tham gia, xác lập hoặc nếu việc họ trực tiếp tham gia, xác lập các giao dịch dân sự có thể sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Đối với những cá nhân có những hạn chế về thể lực và trí lực, để tránh những hậu quả bất lợi cho các chủ thể này cũng như giúp họ được hưởng mọi quyền và lợi ích hợp pháp, việc tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch sẽ do NĐDTPL thực hiện vì lợi ích của họ. Đối với pháp nhân, việc tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người đại diện vì lợi ích của pháp nhân bắt buộc phải được thực hiện thông qua các hành vi của cá nhân. Sở dĩ như vậy là vì pháp nhân là một tổ chức người được cơ cấu theo một hình thức nhất định, được thành lập nhằm thực hiện các hoạt động vì mục 2 Phạm Văn Tuyết (2017), Hướng dẫn môn học Luật Dân sự, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.
3 Xem Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. 7 đích của pháp nhân4 và bản thân pháp nhân không phải là con người cụ thể mà là thực thể pháp lý nhân tạo, tự bản thân nó không có cơ thể sinh học để có thể tự mình hành động5. Vì vậy, pháp nhân cần người đại diện thường xuyên cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba nói riêng và nhân danh mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ nói chung. Khi đó, tùy từng trường hợp mà pháp nhân cần cá nhân đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.
BLDS đã có sự phân biệt giữa đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Trong đó, đại diện theo pháp luật là một bộ phận quan trọng của chế định đại diện cũng như đóng vai trò không thể thiếu trong nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Đại diện theo pháp luật là đại diện được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật. Ngoại trừ cá nhân, các chủ thể khác chỉ có thể tham gia quan hệ pháp luật thông qua NĐDTPL, hoặc người đại diện theo ủy quyền trong trường hợp NĐDTPL ủy quyền lại cho người đại diện theo ủy quyền.
BLDS không đưa ra định nghĩa về NĐDTPL mà chỉ liệt kê các trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân, làm căn cứ xem xét các trường hợp cụ thể trên thực tế. Khái niệm NĐDTPL, nhất là khái niệm NĐDTPL của pháp nhân, là cơ sở quan trọng để tìm hiểu về khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định tại khoản 1 Điều 137 BLDS: NĐDTPL của pháp nhân bao gồm: Một là, người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Hai là, người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; Ba là, người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án. NĐDTPL của pháp nhân là người đại diện pháp nhân trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân với người thứ ba.
Pháp luật cũng cho phép một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định. Như vậy, chế định về đại diện giúp các chủ thể có thể linh hoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như thuận tiện hơn trong các giao kết hợp đồng. Trên thực tế, đại diện được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó không chỉ nhằm mục đích duy nhất là “xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, mà khi nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan, có thể thấy, người đại diện có thể 4 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tlđd (1), tr.
5 Phùng Trung Tập, Kiều Thị Thùy Linh (2020), Nhập môn Luật Dân sự, Nhà xuất bản Lao động, tr. 8 thực hiện rất nhiều hoạt động khác vì lợi ích của người được đại diện, điển hình đó là vai trò và chức năng của NĐDTPL của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty sẽ phát sinh các mối quan hệ với nhiều chủ thể khác nhau. Nhưng “công ty với tư cách là một pháp nhân - một thực thể pháp lý độc lập, (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể - những người quản lý công ty.
Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” 6. Xuất phát từ nhu cầu và sự thừa nhận các dạng quan hệ này trong thực tế, pháp luật đã ghi nhận quan hệ đại diện của doanh nghiệp. Đại diện của doanh nghiệp có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Trong đó, đại diện theo pháp luật là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp.
“Đại diện theo pháp luật còn được gọi là đại diện đương nhiên, tức là được pháp luật công nhận quyền đương nhiên nhân danh doanh nghiệp trong các hoạt động của doanh nghiệp”7. Hình thức đại diện theo pháp luật là một giải pháp an toàn giúp doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như đạt được các lợi ích hợp pháp thông qua các giao dịch do NĐDTPL xác lập và thực hiện vì lợi ích của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, NĐDTPL sẽ mang ý tưởng, suy nghĩ của doanh nghiệp đến với người thứ ba nhằm xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba.