CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÍ MẬT KINH DOANH VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH 1. Khái niệm bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 1. Khái niệm bí mật kinh doanh 1. Khái niệm Từ xa xưa con người đã biết giữ gìn các bí quyết nghề nghiệp của mình.
Các bí quyết này chính là thế mạnh, là lợi thế để họ cạnh tranh với các đối thủ của mình. Là người kinh doanh ai cũng có bí mật thương mại hay bí quyết sản xuất riêng. Những bí mật hay bí quyết riêng đó đem lại lợi ích cho chủ sở hữu của nó nên chúng không thể chia sẻ cho người khác, chúng tồn tại dưới dạng thông tin và được bảo vệ để không bị lộ ra bên ngoài. Đơn giản là vì nếu người khác biết được nội dung của bí quyết đó thì có nghĩa là thông tin đó không còn bí mật, giá trị của nó hay khả năng cạnh tranh đã mất, lợi thế trong kinh doanh đã không còn.
Việc tạo ra hay có được thông tin bí mật là rất quan trọng nhưng việc bảo mật chúng cũng quan trọng không kém. Lúc đầu các bí quyết đó là bí mật riêng của cá nhân và được giữ gìn bởi cá nhân, được tích lũy, phát triển từ đời này sang đời khác hoặc chỉ truyền cho những người thân thuộc nhất của họ. Sau này khi trình độ sản xuất phát triển cao hơn, chủ sở hữu các bí mật kinh doanh bên cạnh các biện pháp bảo mật của mình còn được nhà nước thông qua hệ thống pháp luật góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các bí mật đó. Chính các quy định của pháp luật trong việc chống lại những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh được thiết lập một cách có hệ thống ở các nước hiện nay đã tạo nên sự bảo hộ của nhà nước đối với các bí mật kinh doanh, bảo hộ kết quả của một 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại hoạt động trí tuệ của con người – đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động sáng tạo của con người trong sản xuất, kinh doanh.
Bí mật kinh doanh là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thuộc nhóm các đối tượng có tính thương mại. Thông thường bí mật kinh doanh được hiểu như một thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, được giữ bí mật và có một giá trị kinh tế nhất định bởi nó tạo cho người nắm giữ thông tin một lợi thế trước những đối thủ cạnh tranh. Trên thế giới, vấn đề bảo hộ BMKD đã được quy định đầu tiên trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, ra đời năm 1994 (TRIPS). Theo Hiệp định này thì một thông tin bí mật phải có tính chất bí mật với nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó nói chung không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó; có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật; và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp phù hợp thực tế (Điều 39).
Có một số thuật ngữ khác nhau có liên quan đến bí mật kinh doanh như: thông tin bí mật, thông tin không được tiết lộ. Thông tin bí mật gồm bí mật kinh doanh, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật (khoản 1 Điều 2 Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Thông tin không được tiết lộ khác như những thử nghiệm hoặc dữ liệu không được tiết lộ nhất định được đệ trình như là điều kiện để phê duyệt việc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp thị dược phẩm hoặc các sản phẩm hóa nông có sử dụng các thành phần hóa học mới ( Điều 39.3 Hiệp định TRIPs). Như vậy bí mật kinh doanh là một dạng của thông tin bí mật.
Phần lớn các nước hiện nay đều có quy định về bảo hộ BMKD, phù hợp với Điều 10bis của Công ước Paris. BMKD có vai trò quyết định trong việc tạo ưu thế cạnh tranh giữa người nắm thông tin và những người khác. Để được bảo hộ, người sở hữu BMKD phải có ý định giữ BMKD và thực hiện các biện pháp cụ thể cần thiết để giữ bí mật chúng trên thực tế. Tại Việt Nam, Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 3-10- 2000 cũng đã quy định về bảo hộ BMKD.
Theo quy định của pháp luật Việt nam hiện hành, Khái niệm bí mật kinh doanh được quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”. Trên thực tế kinh doanh ngày nay, các thương nhân có thể coi nhiều loại thông tin khác nhau là bí mật kinh doanh. Đó có thể là các thông tin khoa học như hướng nghiên cứu phát triển khoa học, các kết quả nghiên cứu khoa học…Hoặc đó có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật như các công thức pha chế, quy trình sản xuất, cấu trúc của sản phẩm, mã nguồn của các chương trình máy tính, sơ đồ kiến trúc…Hay đó có thể là các thông tin thương mại như danh sách khách hàng, nhu cầu, thái độ, cơ cấu tiêu dùng của khách hàng, phương án cung ứng, lưu trữ, chăm sóc khách hàng, kế hoạch, chiến lược kinh doanh tiếp thị, quảng cáo, ý tưởng kinh doanh, kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường… Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các thông tin bí mật không được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh gồm các loại thông tin sau: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các bí mật nhân thân, về quản lý nhà nước, về an ninh, quốc phòng, các thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh. Đặc điểm Bí mật kinh doanh là một đối tượng đặc biệt của quyền sở hữu công nghiệp, ngoài những tính chất chung của các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp như mang tính chất vô hình và là sản phẩm của hoạt động sáng tạo, trí tuệ của con người nó có các đặc điểm riêng cơ bản sau: Thứ nhất, bí mật kinh doanh là thông tin nên nó có chức năng thông tin.
Chức năng này đem đến cho người có khả năng tiếp cận nó những hiểu biết, những nhận thức, kiến thức nhất định mà không phải ai cũng dễ dàng có được nó. Những thông tin này có thể được biểu hiện ở những dạng khác nhau như các ký tự, các ký hiệu, hình vẽ, công thức… và có thể được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định như tài liệu, giấy tờ chứa đựng thông tin, mô hình, mẫu vật hay dưới dạng dữ liệu trong máy tính hoặc có khi còn tồn tại dưới dạng phi vật thể như kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của con người… và nó là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người. Thông tin trong bí mật kinh doanh là những tri thức của con người nên con người muốn nhận thức được nó thì phải thông qua hoạt động nhận thức. Điều đó còn có nghĩa là thông tin đó phải là những kiến thức mà con người có thể nhận thức được.
Thứ hai, bí mật kinh doanh là thông tin bí mật. BMKD là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Yếu tố bí mật trong BMKD có vai trò tạo ưu thế cạnh tranh giữa người nắm thông tin và những người khác. Đó là ý nghĩa quan trọng nhất của BMKD.
BMKD một khi đã bị bộc lộ công khai sẽ mất hết giá trị, tính bí mật không còn thì thông tin đó không còn là ưu thế cạnh 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh nữa. Do đó, để cho ý nghĩa của BMKD tồn tại thì nhất thiết phải làm cho BMKD luôn được giữ kín. Thí dụ điển hình nhất về BMKD là công thức pha chế nước ngọt của Công ty Coca – Cola đã được giữ bí mật hơn một trăm năm nay. Hoặc một ví dụ khác đó là công thức chế biến món gà rán KFC được một người Mỹ tên là Harland Sanders sinh năm 1890 nghĩ ra và được giữ bí mật tính đến nay đã được gần hai trăm năm.
Đây là đặc tính “cần” của bí mật kinh doanh, là đặc điểm cơ bản nhất và mang tính chất quyết định của BMKD. Một khi tính bí mật không còn thì thông tin dù có giá trị đến mấy cũng không còn là BMKD và không còn là ưu thế của chủ sở hữu BMKD nữa. Do đó, trước tiên thông tin đó phải còn tồn tại trong tình trạng bí mật, thông tin hoặc phần quan trọng của thông tin đó phải không được dễ biết hoặc dễ suy đoán. Không cần thiết tất cả các phần của thông tin đều phải bí mật mà sự bí mật có thể chỉ là sự kết hợp của những điều đã biết.
Những người quan tâm đến BMKD không thể dễ dàng có được chúng thông qua các phương tiện truyền thông thông thường như sách, báo, giáo trình hay các tài liệu khoa học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật … Phạm vi những người biết BMKD là rất hạn chế, chỉ những người được chủ sở hữu thông tin thực sự tin tưởng thì mới được phép sử dụng hoặc quản lý BMKD. Tất cả những người làm việc có liên quan đến BMKD đều phải có các cam kết về bảo mật thông tin, ví dụ như cam kết trong hợp đồng lao động về trách nhiệm giữ BMKD giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong Hiệp định TRIPS, tại khoản 2 Điều 39 đã nói về tính bí mật của BMKD như sau: “Có tính bí mật nghĩa là những người thường xuyên xử lý thông tin đó nói chung không thể biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó”. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì tính bí mật của thông tin mà bí mật kinh doanh có cơ chế xác lập quyền một cách tự động, tức là không cần phải đăng ký bảo hộ như sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp.