Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức hành chính ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng biện pháp hành chính ở Việt Nam. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ PHƢƠNG THỨC HÀNH CHÍNH TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát phƣơng thức hành chính trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Thương mại là hoạt động ra đời trong lịch sử của con người trên cơ sở phân công lao động xã hội, nó tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái xã hội khác nhau. Sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền với nền kinh tế hàng hóa lưu thông. Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội loài người, sự ra đời của thương nghiệp ra đời thì xuất hiện tầng lớp mới mua đi bán lại hàng hóa để kiếm lời gọi là thương nhân và từ đó hành vi thương mại ra đời.
Sự phổ biến rộng rãi của những hành vi thương mại này tạo nên hoạt động giao thương mà ngày nay người ta gọi là kinh doanh thương mại. Thời kì nền kinh tế hóa tập trung, thuật ngữ thương mại với nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng và chỉ đến khi nước ta bước vào thời kì chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thuật ngữ thương mại mới được sử dụng trở lại. Theo Khoản 2 Điều 5 Luật thương mại năm 1997 quy đinh: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hành vi xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội” [15, Điều 5]. 7 z Sự mở rộng khái niệm thương mại được ghi nhận lần đầu tiên trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 trong bối cảnh Việt Nam kí kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì.
Theo khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lí thương mại; thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kĩ thuật, li măng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hành khách là các hành vi thương mại khác theo pháp luật. Cũng thừa nhận những nội dung được ghi nhận trong Pháp lệnh trọng tài thương mại nhưng khái quát hơn, tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 đã ghi nhận khái niệm thương mại như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [18, Điều 3]. Pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại là tổng thế những quy phạm pháp luật điều chỉnh các tranh chấp phát phát sinh từ hoạt động thương mại. Những tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại là những tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ khi các chủ thể tham gia hoạt động thương mại.
Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Chủ thể tranh chấp kinh doanh thương mại: Tranh chấp thương mại diễn ra chủ yếu giữa các thương nhân hoạt động thương mại với nhau. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại, đó là các Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Điều này xuất phát từ đặc điểm của từng mối quan hệ thương mại cụ thể. Có mối quan hệ thương mại phải được giao kết giữa các thương nhân với nhau, tuy nhiên cũng có những 8 z mối quan hệ thương mại có thể được giao kết giữa thương nhân với cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân được ghi nhận trong Khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 và được ghi nhận với cùng nội dụng tại Khoản 4 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) [22, Điều 4].
Nội dung tranh chấp kinh doanh thương mại: Tranh chấp thương mại chính là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền mà nghĩa vụ (về lợi ích vật chất) của các bên trong hoạt động thương mại. Nói cách khác, tranh chấp thương mại có nội dung liên quan đến lợi ích vật chất của các tranh chấp. Lợi ích vật chất đó thường được xem xét dưới góc độ là giá trị của tranh chấp thương mại. Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật.
Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Trong tranh chấp kinh doanh thương mại hai phương pháp được nhắc đến chủ yếu là phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án (thương lượng, hòa giải) và phương pháp giải quyết tranh chấp bằng Tòa án. Mỗi phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành. Các bên có quyền tự do lựa chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗi phương thức có thể mang lại, mức độ phù hợp của phương thức so với nội dung tính chất của tranh chấp và thiện chí của các bên.
Xuất phát từ quan hệ xã hội được thiết lập trong kinh doanh thương mại dựa trên sự tự nguyện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Do đó, khi xảy ra tranh chấp về kinh doanh thương mại, pháp luật tôn trọng sự tự do thỏa thuận các bên về lựa chọn các bên về phương thức. Giai đoạn đầu khi xảy ra tranh chấp các bên thường áp dụng phương thức thương lượng – hai bên cùng ngồi 9 z lại bàn bạc, thỏa thuận cùng nhau tìm hướng giải quyết tranh chấp, tháo gỡ sự hiểu lầm hoặc nhờ bên thứ ba làm chủ điều hành cuộc đàm phán, thương lượng của hai bên (phương thức hòa giải). Khi một trong hai bên hoặc cả hai bên không có thiện chí tự giải quyết tranh chấp thì một bên có yêu cầu khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.
Khái niệm và đặc điểm phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Khái niệm phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Khi cuộc thương lượng, hòa giải của hai bên không đạt được kết quả như mong muốn thì một hoặc cả hai bên có thể nhờ đến một cơ quan tài phán nhà nước (Tòa án) hoặc một tổ chức tài phán (Trọng tài thương mại) để tiến hành phân xử giải quyết tranh chấp giữa các bên. Hai phương pháp trên được áp dụng rất phổ biến và chiếm ưu thế trong việc giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay. Tuy nhiên, trong kinh doanh thương mại có những lĩnh vực đặc biệt chủ thể hoặc có vị trí, vai trò quan trọng liên quan đến việc quản lý hành chính trong lĩnh vực kinh tế, đảm bảo an toàn trật tự xã hội mà khi tranh chấp kinh doanh thương mại trong lĩnh vực xảy ra nó không chỉ xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ thương mại mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực đó. Chính vì sự đặc biệt trong những lĩnh vực này mà cần một phương thức giải quyết đặc biệt bổ trợ cho hai phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án và bằng Tòa án đó là phương thức giải quyết tranh chấp bằng phương thức hành chính.
Trong quản lý Nhà nước, phương pháp hành chính là cách thức tác động của chủ thể hành chính nhà nước lên đối tượng của hành chính nhà nước (cá nhân, tổ chức) nhằm đạt những mục tiêu xác định. Phương pháp này tác động lên trực tiếp của các chủ thể hành chính nhà nước bằng các quyết định hành chính mang tính bắt buộc. 10 z Đặc điểm phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Về chủ thể: Cũng giống như phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, Tòa án hay trọng tài, ngoài chủ thể là các bên đang xảy ra mâu thuẫn về quyền và lợi ích kinh tế thì phương thức hành chính cũng có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba là trung gian để tiết hành phân xử, giải quyết tranh chấp thương mại. Chủ thể thứ ba này là một cơ quan hành chính nhà nước, đại diện nhà nước mang quyền lực công, đưa ra quyết định để giải quyết tranh chấp giữa các bên, quyết định này có tính bắt buộc các bên trong tranh chấp thương mại bắt buộc thi hành.
Phương thức hành chính chỉ được áp dụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong trường hợp một hoặc cả hai bên ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực nhất định được pháp luật quy định trong hoạt động thương mại và hành vi vi phạm này cũng là nguyên nhân gây ra tranh chấp thương mại giữa các bên. Song song cùng quyết định giải quyết tranh chấp thì cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này có thể ban hành quyết định cá biệt xử phạt vi phạm hành chính đối với một hoặc các chủ thể có hành vi vi phạm. Phương pháp điều chỉnh chính: phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là nguyên tắc mệnh lệnh – phục tùng. Quyết định giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức hành chính được cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại ban hành đại diện cho quyền lực Nhà nước buộc các bên tranh chấp phải chấp hành.
Hiệu lực pháp lý: Bản chất phương thức hành chính trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước bằng quyền hạn và nhiệm vụ hành chính của mình tiến hành phát hiện và xử lý những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong một số lĩnh vực nhất định.