lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 2 chương: 7 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thoả thuận trọng tài Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về thoả thuận trọng tài và kiến nghị giải pháp hoàn thiện 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI 1. Khái niệm và đặc điểm và phân loại thỏa thuận trọng tài 1. Khái niệm về thoả thuận trọng tài Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở lựa chọn của các bên, Trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài là sự đồng thuận của các bên về việc đưa các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh giữa họ ra giải quyết bằng Trọng tài.
“Thỏa thuận trọng tài là nền móng của tố tụng trọng tài thương mại quốc tế. Thỏa thuận này ghi nhận sự đồng ý của các bên về việc đưa tranh chấp ra Trọng tài để giải quyết - đây là thỏa thuận không thể thiếu đối với bất kỳ quá trình giải quyết tranh chấp nào ngoài Tòa án quốc gia”3. Trước đây, khoản 2, Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (sau đây gọi là Pháp lệnh 2003) định nghĩa: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng Trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại” và quy định thỏa thuận trọng tài là một sự bắt buộc phải có để khởi động thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài”. Hiện nay, khoản 2, Điều 3 Luật TTTM năm 2010 năm 2010 (sau đây gọi là Luật TTTM năm 2010) quy định như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”.
Và khoản 1, Điều 5 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. 3 Alan Redfern & Martin Hunter (2004), Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, (Bản dịch tiếng Việt của VCCI và VIAC), NXB Sweet & Maxwell, Luân Đôn, tr.158 9 Bản chất của thỏa thuận là sự bàn bạc và đi đến thống nhất của các bên, bởi vậy điều cốt lõi làm nên thỏa thuận trọng tài là sự bàn bạc, thống nhất lựa chọn phương thức giải quyết của các bên trong quan hệ tranh chấp. Trong mọi trường hợp, ý chí đó phải xuất phát từ sự tự nguyện, được thể hiện một cách minh bạch, không có sự lừa dối hoặc bị đe dọa.
Nội dung của thỏa thuận trọng tài là việc các bên giao cho Trọng tài quyền giải quyết vụ tranh chấp, mặc nhiên thừa nhận Trọng tài có quyền đưa ra phán quyết chung thẩm bắt buộc các bên phải thi hành. Qua đây, có thể thấy rằng thỏa thuận trọng tài đóng vai trò đặc biệt quan trọng. “Thỏa thuận trọng tài có vai trò quyết định đối với việc sử dụng Trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại. Nói một cách dễ hiểu hơn, không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài4”.
“Thỏa thuận trọng tài chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ hoạt động trọng tài kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận và thi hành phán quyết”5. Vai trò của thỏa thuận trọng tài quan trọng đến mức được ghi nhận trong Điều ước quốc tế và pháp luật Trọng tài của các quốc gia trên thế giới. Khái niệm thỏa thuận trọng tài được Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài (sau đây gọi là Công ước New York) xác định là: “Văn bản thỏa thuận theo đó các bên cam kết đưa ra Trọng tài xét xử mọi tranh chấp hoặc một số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên về một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng Trọng tài”. Luật Mẫu của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) về Trọng tài thương mại quốc tế ngày 21 tháng 6 năm 1985 với các sửa đổi, bổ sung được thông qua ngày 07 tháng 7 năm 2006 (sau đây gọi là Luật Mẫu) cũng có quy định một cách tương tự: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận theo đó các bên quyết định sẽ đưa mọi tranh chấp hoặc một số tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa các bên về một quan hệ pháp 4 Hoàng An (2010), “Thỏa thuận trọng tài nền tảng của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề về Pháp luật trọng tài thương mại), tr.35 5 Nguyễn Đình Thơ (2006), “Một số vấn đề về thỏa thuận trọng tài”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (10), tr.17 10 lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng.
Thỏa thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài nằm trong một hợp đồng hoặc dưới hình thức một thỏa thuận riêng”. Khảo sát pháp luật Trọng tài của một số quốc gia, tác giả nhận thấy vấn đề thỏa thuận trọng tài luôn được quy định thành một chương riêng biệt, điều đó thể hiện sự quan trọng của thỏa thuận trọng tài. Ví dụ quy định của nước Anh thể hiện: - Thỏa thuận trọng tài là một thỏa thuận sẽ đưa ra Trọng tài giải quyết các tranh chấp hiện tại hoặc trong tương lai (dù đó có phải là tranh chấp hợp đồng hay không); - Việc dẫn chiếu trong một thỏa thuận tới một dạng văn bản của điều khoản trọng tài hoặc một tài liệu có chứa một điều khoản trọng tài sẽ tạo thành một thỏa thuận trọng tài nếu việc dẫn chiếu này nhằm làm cho điều khoản đó trở thành một phần của thỏa thuận6”. Luật Trọng tài Trung Quốc quy định: “Thỏa thuận trọng tài bao gồm điều khoản trọng tài được quy định trong hợp đồng và trong các thỏa thuận ra Trọng tài giải quyết trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh.
Thỏa thuận trọng tài phải có các nội dung sau: Nêu rõ ý định áp dụng Trọng tài; Vấn đề được đưa ra Trọng tài; Lựa chọn Hội đồng trọng tài”. Điều đó cho chúng ta thấy, thỏa thuận trọng tài đóng vai trò rất cốt lõi trong pháp luật về Trọng tài thương mại. Như vậy, thỏa thuận trọng tài có sự ràng buộc giữa hai bên, hai bên đã chọn Trọng tài giải quyết khi có tranh chấp thì một bên không thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Với nội dung như vậy, thỏa thuận trọng tài có được xem là một giao dịch dân sự hay không? Có quan điểm cho rằng: Theo Điều 121 Bộ luật dân sự năm 2005 [Điều 116 BLDS năm 2015] thì “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Thỏa thuận trọng tài không thể là một hành vi pháp lý đơn phương. Do đó, nếu được coi là một 6 Nguyễn Thị Dung, Lê Hương Giang (2011), Bình luận một số nội dung mới trong Luật trọng tài thương mại năm 2010, Tạp chí Luật học, Số 6/2011, tr. 11 giao dịch dân sự thì nó chỉ có thể là một hợp đồng. Về khái niệm hợp đồng, Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005 [Điều 385 BLDS năm 2015] quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Ở đây, thỏa thuận trọng tài là một thỏa thuận của các bên. Vì thế, để coi đây là một hợp đồng thì phải chứng minh được rằng, thỏa thuận này có nội dung là “xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Trong quan hệ Trọng tài, khi các bên đã thỏa thuận chọn Trọng tài thì một bên không thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nếu bên kia phản đối. Ở đây có sự ràng buộc pháp lý nên có thể coi là đã tồn tại quan hệ nghĩa vụ dân sự giữa các bên.
Từ đó, có thể khẳng định thỏa thuận trọng tài là một dạng giao dịch dân sự7. Tác giả đồng ý với quan điểm trên đây. Bởi lẽ, xuất phát từ chính bản chất của thỏa thuận trọng tài đó là sự thống nhất, sự thỏa thuận của hai bên trao cho Trọng tài giải quyết khi có tranh chấp, khi đã thỏa thuận họ phải có trách nhiệm với những điều đó. Việc thừa nhận thỏa thuận trọng tài cũng là một giao dịch dân sự hoàn toàn phù hợp với bản chất của Pháp luật dân sự.
Cùng đồng tình với quan điểm trên, có ý kiến cho rằng: Về hình thức, “thỏa thuận trọng tài” có thể chưa phải là một hợp đồng nhưng ta nên coi “thỏa thuận trọng tài” như một hợp đồng vì xét về bản chất nó mang đầy đủ những thuộc tính cơ bản của một hợp đồng. Đó là văn bản các bên thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp, trung tâm giải quyết, quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ… và các bên cũng phải chịu trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình. Và cũng bởi lẽ, nếu hợp đồng được các bên thỏa thuận kí kết nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ giữa các bên thì thỏa thuận trọng tài chính là một “hợp đồng” mà trong đó các bên thỏa thuận đưa vụ tranh chấp giữa các bên (nếu có) ra giải quyết tại Trọng tài8. 7 Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.68 8 Nguyễn Ngọc Lâm (2007), Tư pháp quốc tế -Phần 2: Một số chế định cơ bản, tố tụng Tòa án và Trọng tài, NXB Phương Đông, Tp.Hồ Chí Minh, tr.294 12 Từ các giải thích trên có thể thấy, “thỏa thuận trọng tài là vấn đề then chốt, là “hòn đá tảng” trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài”.
Theo tác giả: “Thỏa thuận trọng tài được hiểu là sự thống nhất ý chí của các bên nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ thông qua thủ tục trọng tài. Thỏa thuận này thể hiện sự cam kết chấp thuận thẩm quyền của trọng tài của các bên liên quan trong việc giải quyết các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa họ với nhau trong khuôn khổ một mối quan hệ pháp luật xác định”.