Chương 1: Nh ng vấn đề chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục sơ thẩm bằng Tòa án. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh Thương mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án. Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp Kinh doanh Thương mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân và các giải pháp, kiến nghị. 5 Chƣơng 1 NH NG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP INH OANH THƢƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP INH OANH THƢƠNG MẠI TH O THỦ TỤC SƠ THẨM NG TÒA ÁN 1.
Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục sơ thẩm Pháp luật tố tụng dân sự của nước ta từ trước đến nay chưa quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm về giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm mà chỉ xác định nh ng tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Kể cả pháp luật về nội dung như Luật Thương mại năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng không đưa ra khái niệm này. Thuật ng KDTM còn được hiểu nhầm lẫn với các thuật ng khác như thương mại, kinh tế; ở góc độ pháp lý, hiện nay hầu hết quan điểm lại đồng nhất “tranh chấp kinh tế” với “tranh chấp thương mại”.
dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ án KDTM. Vì vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm là điều cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục trong quá trình giải quyết các vụ án KDTM. Trong quá trình đ i mới, phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh; bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình công ty và hộ kinh doanh cá thể. Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú và tính chất phức tạp.
Trong điều kiện đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình. Trong giai đoạn này kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp. Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ 6 của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra các yêu cầu phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế.
Các văn bản pháp luật khác nhau, nhất là luật chuyên ngành lại có quy định không đồng nhất về tranh chấp KDTM. Trong Luật thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại. Theo đó, hoạt động thương mại là: “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại) [21]. Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi.
Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp) [26]. Tranh chấp KDTM là một thuật ng , một khái niệm đã trở nên rất ph biến trong đời sống xã hội. Thuật ng này không chỉ xuất hiện trong văn bản pháp luật và còn xuất hiện thường ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong đời sống kinh tế… Theo Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp là sự giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào. Tranh chấp cũng có nghĩa là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề về quyền lợi gi a hai bên khi tham gia một quan hệ pháp luật bất kỳ [50].
Theo BLTTDS năm 2015 thì tranh chấp KDTM đã được quy định theo hướng khái quát hóa thay vì sử dụng phương pháp liệt kê như quy định tại BLTTDS năm 2004 được sửa đ i, b sung năm 2011, cụ thể: “1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật” [28]. Từ nh ng nội dung và nhận định nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa: Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình. Tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đó là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM gi a cá nhân, t chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận: tranh chấp về quyền sở h u trí tuệ, chuyển giao công nghệ gi a cá nhân, t chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp gi a người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; tranh chấp gi a công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp gi a công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm h u hạn hoặc thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, t ng giám đốc trong công ty c phần; gi a các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đ i hình thức t chức công ty.
Dấu hiệu để phân biệt tranh chấp KDTM với tranh chấp dân sự là tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM; gi a các chủ thể có đăng ký kinh doanh; và các chủ thể này đều có mục đích lợi nhuận. Do vậy, tranh chấp không thỏa mãn 3 dấu hiệu này là tranh chấp dân sự. Trong lĩnh vực dân sự, khi các tranh chấp dân sự xảy ra, đương sự khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án dân sự. Theo đó, nh ng tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động do cá nhân, cơ quan, t chức khởi 8 kiện mà được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án dân sự.
Khác với các vụ án dân sự, Hôn nhân gia đình và Lao động, vụ án KDTM có đặc điểm riêng về chủ thể, lĩnh vực tranh chấp, nội dung tranh chấp và mục đích hoạt động. Việc khởi kiện tranh chấp KDTM của đương sự và việc thụ lý của Tòa án nhân dân để giải quyết đều phải tuân thủ một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. “Thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [6]. Thủ tục là bảo đảm việc giải quyết công việc có hiệu quả.
Khi giải quyết công việc đều phải theo thủ tục nhất định. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao động đều được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự [28]. Do đó, thủ tục giải quyết vụ án KDTM là một trong nh ng thủ tục của thủ tục tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 17 BLTTDS năm 2015, chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được đảm bảo.
Do vậy, các vụ án KDTM cũng có thể được xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ án KDTM nào cũng phải trải qua xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm. Tùy thuộc vào kết quả của việc giải quyết vụ án KDTM ở Tòa án cấp sơ thẩm và tùy thuộc vào việc thực hiện quyền tự do định đoạt của đương sự mà việc giải quyết vụ án KDTM ở cấp sơ thẩm có thể kết thúc ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc phiên tòa sơ thẩm. Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự” [37, tr.