Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Chương 2: Thực trạng pháp luật Vệt Nam về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Định hướng, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại Tòa án 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Hiện nay, nền kinh tế thị trường ở nước ta đang phát triển ngày càng mạnh mẽ với việc mở rộng các quan hệ kinh tế, từng bước hội nhập với nền thị trường kinh tế thế giới đã và đang giúp hoạt động kinh doanh, thương mại (KDTM) đã thu hút được nhiều hơn các chủ thể kinh doanh.
Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú, tính chất phức tạp và chính các quan hệ kinh tế này luôn tiềm ẩn các nguy cơ phát sinh tranh chấp nhằm tranh giành lợi ích giữa các bên tham gia. Do đó, hiện nay, các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM luôn đa dạng về chủng loại, phức tạp hơn về tính chất và quy mô, được rất nhiều người quan tâm và đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp KDTM. Ở Việt Nam, chưa có quy định cụ thể nào về khái niệm tranh chấp KDTM. Thuật ngữ “kinh doanh, thương mại” xuất hiện sau khi Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 được ban hành, trước bộ luật này được gọi là "tranh chấp kinh tế".
Các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp. Tranh chấp được hiểu là: “Đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [36]. Theo khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 không có quy định về khái niệm tranh chấp KDTM mà chỉ đưa ra khái niệm hoạt động thương mại là: “Hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá 8 trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo khoản 21 điều 4 Luật Doanh Nghiệp năm 2020 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Từ những khái niệm trên có thể hiểu tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu là sự bất đồng chính kiến, mẫu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau. Ngoài ra, điều 29.1 BLTTDS (2004) quy định những tranh chấp về KDTM là: “Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”. Theo Điều 30 BLTTDS (2015) cho thấy Tranh chấp KDTM được quy định theo hướng khái quát hóa thay vì sử dụng phương pháp liệt kê theo quy định tại BLTTDS (2004) được sửa đổi, bổ sung năm 2011, và được hiểu là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Đó là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Theo quy định của KDTM năm 2015 có thể hiểu rằng, tranh chấp KDTM thực chất là tranh chấp kinh tế đã được mở rộng nội hảm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị 9 trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung của tranh chấp KDTM quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 thực chất cũng là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận Luật thương mại năm 2005. Theo Điều 2 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài [15].
Tuy có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau và có sự thay đổi trong thuật ngữ pháp lý, nhưng thực tế đều nhìn nhận được một điểm chung được thể hiện là những xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ KDTM thì chính là tranh chấp KDTM. Nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp KDTM được thể hiện qua các quy định trong văn bản pháp luật thời gian gần đây là khá nhất quán. Mặt khác, tranh chấp KDTM còn được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản. Như vậy qua các phân tích như trên tác giả có thể hiểu tranh chấp KDTM là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trọng quá trình hoạt động KDTM của các bên.
Đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại Mỗi loại tranh chấp đều mang những đặc điểm riêng, phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ pháp luật vào chủ thể của các mối quan hệ đó cũng như lợi ích của mối quan hệ đó mang lại. Tranh chấp KDTM có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể. Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp. Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ 10 thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh.
Trong hoạt động thương mại các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu. Thứ hai, những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại. Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật.
Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thứ ba, các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân với nhau.
Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại. Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành mục quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại. Một quy tắc được pháp luật của pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân. Nếu bị đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa thương mại hoặc Tòa dân sự để giải quyết vụ tranh chấp.
Trường hợp nguyên 11 đơn chọn Tòa thương mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thương mại được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp. Ngược lại, bị đơn không phải là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi thương mại) chỉ có quyền kiện ra Tòa dân sự và luật dân sự được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp mà các quy định của luật thương mại không thể áp dụng cho đối phương không phải là thương nhân. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các tranh chấp trong kinh doanh chủ yếu tồn tại dưới dạng các tranh chấp về hợp đồng kinh tế, phản ánh tính đơn điệu của các lợi ích cần bảo vệ trong mô hình kinh tế này.