Chương 1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án. Thực trạng về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án và thực tiễn thực hiện tại tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án và đảm bảo thực hiện quy định này ở tỉnh Sơn La.
5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại của Tòa án 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án 1. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại Tranh chấp thương mại là một trong những hệ quả của hoạt động kinh doanh.
Tranh chấp thương mại là hiện tượng phổ biến và thường xuyên trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất thường xuyên và tác động đến các bên tranh chấp (đặc biệt là nền kinh tế nói chung), pháp luật Việt Nam từ lâu cũng đã quan tâm đến hoạt động này và sử dụng nó như một phương pháp giải quyết. Có thể nói, trong các loại tranh chấp, tranh chấp MLM là loại tranh chấp phổ biến nhất. Hiện nay khoa học pháp lý dân sự, thương mại chưa có bất kỳ một định nghĩa chính thức nào về tranh chấp kinh doanh thương mại, tuy nhiên, khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại được nghiên cứu dưới những góc độ sau: Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là “Đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên”[36].
Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trê n thị trường nhằm mục đích sinh lợi”[27]. Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[23]. Dù được đưa ra với những quan niệm khác nhau, trên cơ sở quy định của BLTTDS và Luật thương mại, có thể thấy tranh chấp kinh doanh thương mại có những đặc trưng như sau: Thứ nhất, về nguồn gốc phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại. 6 Hoạt động KDTM là nguồn gốc phát sinh tranh chấp KDTM.
Hoạt động kinh doanh thương mại thường rất đa dạng và chịu sự tác động, điều chỉnh của nhiều quy luật, yếu tố thị trường như: “luật cung cầu”, “sự thay đổi giá cả”… Bất kỳ yếu tố nào trong mối quan hệ KDTM đều có thể gây ra tranh chấp. Thứ hai, về chủ thể tranh chấp kinh doanh thương mại. Chủ thể của hoạt động KDTM thương nhân và chủ thể khác có quan hệ pháp lý với thương nhân. Nhưng thương nhân vẫn là chủ thể chủ yếu trong quan hệ kinh doanh thương mại.
Do đó, chủ thể của tranh chấp KDTM là thương nhân hoặc các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân trong những điều kiện nhất định. Điều này xuất phát từ đặc điểm của từng mối quan hệ kinh doanh thương mại cụ thể. Có mối quan hệ kinh doanh thương mại phải được giao kết giữa các thương nhân với nhau, tuy nhiên cũng có những mối quan hệ thương mại có thể được giao kết giữa thương nhân với các nhân, tổ chức không phải là thương nhân. Khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015 có quy định về một loại tranh chấp không diễn ra giữa các thương nhân với nhau: “tranh chấp giữa các công ty và thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”[29].
Tuy nhiên những tranh chấp này vẫn được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của BLTTDS. Thứ ba, về nội dung của tranh chấp kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hoặc xung đột về quyền và nghĩa vụ (về mặt lợi ích vật chất) của các bên tham gia hoạt động KDTM. Nói cách khác, tranh chấp KDTM có nội dung liên quan đến lợi ích vật chất của tranh chấp.
Lợi ích vật chất này thường được xem xét từ góc độ giá trị của các tranh chấp KDTM. Và so với các tranh chấp khác trong xã hội, tranh chấp KDTM thường là tranh chấp có giá trị lớn. Nội dung tranh chấp thường rất phong phú và đa dạng, phù hợp với tính đa dạng của các mối quan hệ KDTM. Thứ tư, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại là vấn đề do các bên tranh chấp tự định đoạt.
Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án, nhà nước không được can thiệp trừ khi những tranh chấp này 7 vi phạm trật tự công cộng hoặc khi các bên không thể thương lượng, hòa giải được và đã đưa ra yêu cầu đưa ra trọng tài thì nhà nước có quyền giải quyết. Vì tranh chấp KDTM là mối quan hệ do các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận (thuộc lĩnh vực Luât tư) nên các bên có toàn quyền quyết định trong việc giải quyết tranh chấp. Các bên có quyền tự thương lượng với nhau để lựa chọn giải pháp phù hợp; tự mình giải quyết nội dung tranh chấp và cùng nhau thương lượng để giải quyết kể cả sau khi tranh chấp được đưa ra Tòa án giải quyết. Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những xung đột lợi ích, bất đồng giữa các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại khi một bên khẳng định quyền lợi của mình và bị bên kia phản đối”.
Khái niệm về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là yêu cầu tất yếu khách quan trong kinh doanh: “Giải quyết tranh chấp KDTM là những giải pháp nhằm tháo gỡ những mâu thuẫn trong quan hệ KDTM của các chủ thể. Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với chủ thể của tranh chấp, bởi mọi chủ thể của tranh chấp KDTM đều có xu hướng mong muốn vừa giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng vừa ít tốn kém. Theo quy định của Luật thương mại thì các phương thức giải quyết gồm có: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án”[23]. (i) Phương thức giải quyết thương lượng trực tiếp Đây là phương thức khi có tranh chấp xảy ra, các chủ thể tự bàn bạc, dàn xếp, thảo luận để lựa chọn hướng giải quyết mâu thuẫn mà không cần có sự trợ giúp của chủ thể khác cũng như là thông qua một thủ tục tố tụng nào.
Phương thức thương lượng là phương thức cổ điển, thông dụng, bởi dễ dàng thực hiện, ít tốn kém, ít ảnh hưởng đến danh tiếng, đặc biệt bí mật kinh doanh của các chủ thể, không bị ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý, đặc biệt là giữ được mối quan hệ giữa các bên tham gia tranh chấp, tăng cường sự hiểu biết, sự hợp tác giữa các bên nếu như thương lượng thành công. Khi xảy ra tranh chấp thì hầu như các bên tham gia tranh chấp sẽ tiến hành lựa chọn phương thức này đầu tiên, các phương thức khác sẽ được lựa chọn khi phương pháp thương lượng không đạt kết quả. 8 (ii) Hoà giải các tranh chấp Hòa giải tranh chấp KDTM là phương thức giải quyết tranh chấp có sự hỗ trợ của bên thứ ba làm trung gian hoà giải. Bên thứ ba tham gia giải quyết tranh chấp với vai trò là người thuyết phục, đưa ra ý kiến để các bên tham khảo.
Khác với các hình thức giải quyết tranh chấp khác như trọng tài thương mại hoặc Tòa án, các ý kiến của Hòa giải viên chỉ mang tính chất tham khảo, quyền quyết định lựa chọn giải quyết tranh chấp theo hướng như thế nào vẫn do các bên chủ thể quyết định. Hòa giải với sự tham gia của bên thứ ba trong trường hợp này là hòa giải ngoài tố tụng khác với hoà giải trong tố tụng được tiến hành tại Tòa án hoặc trọng tài thương mại. (iii) Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Đây là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài thương mại hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập với mục đích giải quyết mâu thuẫn tranh chấp KDTM thông qua việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên tham gia giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phải thi hành. Mặt ưu điểm của Trọng tài thương mại là tính linh hoạt cao, các chủ thể trong quan hệ tranh chấp mang tính chủ động cao, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian giải quyết tranh chấp và đảm bảo bí mật thương mại.
Trọng tài thương mại tham gia tiến hành giải quyết vụ việc tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không được công bố công khai. Từ đó cá nhân, tổ chức tham gia giải quyết tranh chấp có thể giữ được bí mật kinh doanh cũng như danh dư, uy tín của mình. Giải quyết tranh chấp thông qua phương thức trọng tài thương mại không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên tham gia giải quyết tranh chấp có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp. Phán quyết được đưa ra của trọng tài mang tính chung thẩm, đây là ưu điểm vượt trội so với giải quyết tranh chấp bằng hình thức thương lượng và hòa giải.
Sau khi trọng tài đã đưa ra phán quyết của mình thì các bên tham gia giải quyết tranh chấp không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay TAND các cấp nào. Nhược điểm của phương thức này chi phí giải quyết tranh chấp cao, vụ việc cần giải quyết tranh chấp càng kéo dài thì chi phí trọng tài thương mại càng cao.