phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 03 chƣơng với kết cấu: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp hiện nay Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với tài sản đang bị cầm cố, thế chấp 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG BỊ CẦM CỐ, THẾ CHẤP 1.1 Áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm tài sản cầm cố, thế chấp và áp dụng biện pháp kê biên tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự 1.1 Khái niệm tài sản cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự (i) Khái niệm tài sản cầm cố Cầm cố tài sản là một dạng quan hệ mà ở đó một ngƣời giao cho ngƣời khác tài sản để làm tin cho cam kết, giao ƣớc của mình, nếu mình không thực hiện đƣợc thì tài sản này mặc nhiên thuộc về sở hữu của ngƣời kia. Quan hệ cầm cố đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử các quan hệ dân sự.
Bộ luật dân sự năm 1995 quy định cầm cố tài sản tại khoản 1 Điều 329 đó là việc một bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm cố hoặc giao cho ngƣời thứ ba giữ. Căn cứ Điều 326 của Bộ luật dân sự 2015 thì cầm cố tài sản đƣợc hiểu là: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Từ đó, có thể khái quát về cầm cố tài sản: “Cầm cố tài sản là sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ. Theo đó, bên có nghĩa vụ phải giao cho bên có quyền một tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”[80, tr 63].
Việc giao hay không chuyển giao tài sản trong các quy định về cầm cố, thể chấp là diễn đạt về mối quan hệ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyển giao hay không chuyển giao một số quyền năng pháp lý nhất định đối với tài sản ( quyền chiếm hữu hoặc cả quyền sử dụng nhƣng không chuyển giao quyền định đoạt) từ chủ sở hữu (bên cầm cố, thế chấp) sang cho bên nhận cầm cố, thế chấp - cho dù để chiếm hữu tài sản thì ngƣời ngƣời thụ quyền phải nắm nó trong tay mà không quan tâm đến việc tài sản ấy có hay không có khả năng dịch chuyển, di dời cơ học hay không. Qua đó, quy định pháp luật về cầm cố tài sản qua từng thời kỳ có sự khác nhau, song về cơ bản, đặc điểm nổi bật vẫn đƣợc giữ nguyên trong các quy định đó là việc chuyển giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố. Nhƣ vậy, “Tài sản cầm cố là tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố, được phép giao dịch và không có tranh chấp, tài sản này được xác định và được chuyển giao giữa các bên trong giao dịch”.[42] Từ đó, khái niệm tài sản cầm cố trong lĩnh vực thi hành án dân sự đƣợc hiểu theo hƣớng: Tài sản cầm cố trong thi hành án dân sự là tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang tham gia giao dịch cầm cố với bên thứ ba để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ dân sự đã cam kết, được cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp nghiệp vụ lên tài sản đó. (ii) Khái niệm tài sản thế chấp Thế chấp là một từ có nguồn gốc Hán Việt, cụ thể: “thế” là bỏ đi, thay cho[2, tr.
154], còn “Chấp” là cầm, giữ, nắm[2, tr394]. Từ điển Tiếng Việt giải thích thêm: “Thế chấp là dùng tài sản làm vật đảm bảo, thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng kỳ hạn”[93]. Từ đó, có thể hiểu thế chấp là một cách thức mà bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã lựa chọn để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua một tài sản. Đồng thời, giá trị của tài sản này có khả năng thay thế cho nghĩa vụ bị vi phạm.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trƣớc đây, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định tại Điều 432 về thế chấp tài sản nhƣ sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”[52]. Hiện nay, căn cứ Điều 317 của Bộ luật dân sự năm 2015: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”[53]. Nhƣ đã phân tích ở phần trên, việc giao hay không giao tài sản đƣợc tiếp cận ở góc độ pháp lý. Sự khác nhau cơ bản giữa cầm cố và thế chấp đó chính là sự thỏa thuận có chuyển giao (quyền chiếm hữu) tài sản hay không, trên phƣơng diện pháp lý nó phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia giao dịch mà không quan tâm đến tính chất khách quan là khả năng dịch chuyển cơ học của tài sản đó.
Ngoài ra, biện pháp thế chấp còn có thể đƣợc hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên thế chấp cam kết dùng tài sản của mình thông qua việc chuyển giao toàn bộ hồ sơ pháp lý của tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà không phải chuyển giao bản thân tài sản thế chấp[79, tr 59]. Theo quy định tại Điều 318 của Bộ luật dân sự 2015 thì có thể thấy, tài sản thế chấp có thể là những tài sản nhƣ bất động sản, động sản và quyền sử dụng đất trong các giao dịch thế chấp cụ thể. Còn theo tác giả Vũ Thị Hồng Yến: “Tài sản thế chấp là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn và không cần giao tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm”[95]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, tài sản thế chấp có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Tài sản thế chấp là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm”[95, tr30].
Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, cùng với khái niệm tài sản trong thi hành án dân sự đã nêu ở phần trên thì tài sản thế chấp cũng phải đảm bảo các yêu cầu của tài sản trong giao dịch thế chấp tài sản quy định tại Điều 318 của Bộ luật dân sự năm 2015. Mặc dù vậy, tài sản thế chấp trong quan hệ thi hành án dân sự bên cạnh việc bảo đảm nghĩa vụ đã cam kết, còn cần phải bảo đảm nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định đã tuyên khi chủ sở hữu không còn tài sản nào khác có giá trị để thi hành. Từ đó, tài sản thế chấp trong thi hành án dân sự đƣợc hiểu nhƣ sau: Tài sản thế chấp trong thi hành án dân sự là tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án đang trong quan hệ thế chấp tài sản với bên thứ ba được cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo nghĩa vụ về tiền của chủ sở hữu tài sản. Khái niệm kê biên tài sản là tài sản đang bị cầm cố, thế chấp trong thi hành án dân sự (i) Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự “Kê biên” là một động từ ghép bời hai từ “kê” và “biên”.
Từ điển Tiếng Việt giải thích: “kê” là viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo ”[93, tr 466], còn “biên” là viết lên trang giấy[93, tr. Từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng định nghĩa “kê biên tài sản” nhƣ sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”[88]. Kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể. Hay kê biên tài sản đƣợc hiểu là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định đoạt hoặc chuyển 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch tài sản của ngƣời vi phạm pháp luật.
Điều này có nghĩa khi kê biên tài sản của một ngƣời nào đó thì quyền sở hữu tài sản của họ bị hạn chế, hay họ không đƣợc chuyển đổi, định đoạt … tài sản đã bị kê biên đó. Mặt khác tài sản bị kê biên phải là của ngƣời vi phạm pháp luật. Tài sản ở đây có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 71 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự năm 2014) thì kê biên là một trong số các biện pháp cƣỡng chế thi hành án dân sự và đƣợc sử dụng khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên tài sản của ngƣời phải thi hành án trong trƣờng hợp ngƣời thi hành án không tự nguyện thi hành án.